Phap Nhan Temple

Thư Mời Tết 2020 Vietnamese & English

VideosNewyear2020



12/15/2019: "Video Sinh Hoạt Mới tại Chùa Pháp Nhãn Nam 2020 (New Activity Videos of New Year 2020 at Phap Nhan Temple)

XUÂN TỪ BI


Chúng ta đều biết một năm có ba trăm sáu mươi lăm ngày bắt đầu từ ngày ba mươi mốt tháng mười hai năm nay tới ngày Mùng một tháng giêng năm sau. Trong những ngày chuyển tiếp ấy, có hai ngày chuyển tiếp đáng nhớ, đó là, ngày cuối của năm cũ và ngày đầu của năm mới. Bên cạnh đó, ta còn có đêm chuyển tiếp, giờ chuyển tiếp, phút chuyển tiếp…được gọi là đêm giao thừa, giờ giao thừa, phút giao thừa...Từ đây, ngày Tết đầu năm bắt đầu xuất hiện, ta có Lễ hội Xuân. Trong Lễ hội Xuân thường có ba ngày Lễ hội hoặc nhiều hơn nữa, mọi người cùng nhau vui Xuân và vui Lễ hội.
Theo tư tưởng Phật giáo phát triển, đức Phật Di Lặc xuất hiện ra đời vào ngày mới đầu năm – ngày Mùng Một Tết, đặc biệt là giờ phút giao thừa an lạc, linh thiêng và vui vẻ. Trong giờ phút an lạc này, mọi người đều có chung ước muốn cầu nguyện bắt đầu từ đầu năm cho tới cuối năm, điều lành đưa tới, dữ thời đưa đi, nhà nhà hạnh phúc, người người yên vui, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc.


Như quý vị biết Phật Di Lặc trong tiếng Phạn (Sanskrit) là Maitreya Buddha. Buddha có nguồn gốc từ Budh; Budh có nghĩa là tỉnh thức, hiểu biết, giác ngộ, …Buddha có nghĩa là Người tỉnh thức, giác ngộ, giải thoát, vững chãi, thảnh thơi, v. v…được dịch ra tiếng Việt là Phật hay Bụt. Maitreya (Sanskrit) là có nguồn gốc từ MaitrĪ hay Mitra (S.) có nghĩa là người hoan hỷ và sự hoan hỷ, người thương yêu và sự thương yêu, người hiểu biết và sự hiểu biết…được dịch tiếng Việt là Di Lặc. Vậy Maitreya Buddha dịch âm là Phật Di Lặc dịch nghĩa là Người có thân tâm an lạc, hoan hỷ, thương yêu, hiểu biết, thân thiện, gần gũi, chia sẻ, giúp đỡ v. v…Thực vậy, Phật Di Lặc, là hiện thân cho sự hoan hỷ, sung mãn, tràn đầy, sức sống, tươi sáng, tốt đẹp, an vui, hạnh phúc, thương yêu, hiểu biết…, có khả năng hiến tặng những hoa trái an vui, hạnh phúc, thương yêu và hiểu biết tới nhiều người.
Đản sinh vào ngày Tết đầu năm, đức Phật Di Lặc biểu hiện cho tình thương, tha thứ, bao dung, độ lượng, hoan hỉ, v. v…Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thấy đức Phật Di Lặc cụ thể bằng xương bằng thịt xung quanh chúng ta, đó là, cha, mẹ, thầy, bạn, vợ, chồng, con cái, và mỗi chúng ta. Cha mẹ hoan hỷ thì con cái hoan hỷ, cha mẹ an lạc thì con cái an lạc. Và ngược lại, con cái hạnh phúc thì cha mẹ hạnh phúc…bằng cách áp dụng và thực hành Phật pháp vào đời sống hằng ngày của mình. Sống đời sống vui vẻ, thương yêu, an lạc và hạnh phúc cho số đông, thì mỗi chúng ta là đức Phật Di Lặc hiện tại cũng như tương lai để hiến tặng an vui và hạnh phúc cho tự thân và tha nhân ngay cuộc sống này.
Qua những ý nghĩa trên, người viết mạnh dạn đặt tựa đề cho bài viết này là “Xuân Từ Bi.” Chủ đề này được chia làm hai phần: “Xuân và Từ Bi.” “Từ Bi” sẽ được trình bày phần dưới. “Xuân” được trình bày ở đây. “Xuân” gồm có “thời gian Xuân, không gian Xuân, hoàn cảnh Xuân và tâm Xuân.
Thời gian xuân” trong bài viết này gồm có những ngày cuối của năm cũ và những ngày đầu của năm mới. Trong những ngày cuối của năm cũ, người ta nghỉ học, nghỉ công sở, nghỉ làm việc, bận rộn lo mua sắm, lo lau dọn, lo làm bánh, lo nấu nướng, lo quét dọn, cắm hoa, trang trí bàn thờ Phật và thờ Ông bà Tổ tiên nội ngoại, v. v… và v. v…Trong những ngày đầu năm mới, người ta rảnh rỗi, vui vẻ và nhộn nhịp lắm lo đi Chùa thắp hương lạy Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hộ pháp thiện thần để xin lộc đầu năm bằng cách cầu nguyện các Ngài chứng minh, gia hộ và độ trì cho con, người thân người thương trong gia đình con đều được an vui và hạnh phúc từ đầu năm cho tới cuối năm.
Nếu là đạo Chúa, mình đi nhà Thờ làm lễ và xin cầu nguyện Đấng ơn trên gia hộ và độ trì cho con và thân bằng quyến thuộc của con sức khỏe dồi dào, thân tâm an lạc.
Sau khi đi Chùa hoặc đi nhà Thờ xong, chúng ta tiếp tục đi thăm gia đình Nội ngoại hai bên và mừng tuổi Ông Bà với những lời chúc thâm tình, thân thiện, gần gũi, dễ thương và tốt đẹp như người sống được vui, kẻ siêu được sinh về thế giới an lành.


Chúng ta biết một cây cổ thụ có gốc rễ, có thân, có cành, có nhánh, có lá...Cha mẹ là gốc rễ, là thân cây; chúng ta là cành, là nhánh, là lá…Gốc rễ và thân cây nuôi dưỡng cành, nhánh, lá, và giúp cành, nhánh, lá phát triển xanh tươi, che nắng, ra hoa, kết trái để hiến tặng cho đời một môi trường thiên nhiên tươi mát, xanh đẹp. Ngược lại, gốc rễ và thân cây không vững chắc và không có nhựa sống, thì cành nhánh lá dễ rụng, dễ gẫy, dễ khô cằn và dễ héo úa. Nếu cây có quả, thì quả của nó không ngon và không ngọt. 
Cũng vậy, cha mẹ sống đời sống có đạo đức, có tu tập, có hành trì và áp dụng lời Phật dạy vào đời sống hằng ngày của mình bằng cách không làm các việc ác, làm các việc lành, giữ thân tâm an lạc và trong sạch để nuôi dưỡng lòng từ, bố thí Phật pháp và của cải cho người nghèo khổ, sống chân thật và tin tưởng, tạo niềm tin và uy tín cho nhiều người. Làm được như vậy, thì cha mẹ là người an lạc và hạnh phúc có khả năng hiến tặng những hoa trái an lạc và hạnh phúc cho con cái và dạy cho con cái phân biệt những điều thiện và điều bất thiện; Điều thiện thì tiếp tục làm, duy trì và phát triển, điều bất thiện thì tập bỏ dần và bỏ hẳn.   
Do đó, cha mẹ đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục con cái. Cha mẹ là nền tảng hạnh phúc của gia đình sống đời sống đạo đức, thì con cái có ảnh hưởng noi theo. Hạnh phúc của ba mẹ chính là hạnh phúc của con cái và an vui của con cái chính là an vui của ba mẹ.
Giáo dục gia đình tuy không có trường lớp, nhưng nó là nền tảng thiết yếu của xã hội. Trong gia đình, cha mẹ là thầy giáo dạy về thương yêu, con cái là học sinh, sinh viên học về thương yêu. Tình thương yêu giữa cha mẹ và con cái được gắn kết với nhau rất mật thiết tạo thành sức mạnh hạnh phúc của gia đình. Chính yếu tố sức mạnh ấy nên con cái luôn ghi ơn và nhớ ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.
Thực vậy, dù chúng ta làm gì ở đâu, dù chúng ta làm ông tỉnh trưởng hoặc bà quận trưởng, dù chúng ta là người Phật tử hay không phải Phật tử, nhưng Ông bà cha mẹ vẫn là người mà chúng ta quý kính nhất trên đời. Ca dao Việt Nam có câu:

Có cha mẹ lại có ta;
Cha mẹ là gốc, chúng ta là cành.
Thân ta như thể lá xanh,
Nhờ gốc tiếp nhựa, thì cành mới tươi.

Để nhấn mạnh những ý nghĩa trên, chư vị Tôn đức thường dạy: “Tôn kính cha mẹ chính là tôn kính Phật.” “Thờ cha thờ mẹ chính là thờ Phật.” Thật vậy, vai trò cha mẹ rất là quan trọng. “Cha mẹ tại nhà được xem như Phật tại thế.” Chính vì những lí do trên nên sau khi đi Chùa hoặc đi nhà Thờ xong, chúng ta thường đi viếng thăm và mừng tuổi Ông bà cha mẹ vào dịp Tết đầu xuân.
Theo truyền thống của người Á đông, đặc biệt là người Việt Nam, sau khi viếng thăm Cha mẹ Nội ngoại hai bên rồi, chúng ta tiếp tục đi viếng thăm mộ, thắp hương và cầu nguyện những người đã khuất gia hộ và độ trì cho con cháu lớn nhỏ đều được bình yên. Theo triết lí nhân sinh, người sống và người chết đều có mối tương quan và tương duyên với nhau rất mật thiết. Người sống và người chết có thể là Ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cháu…của chúng ta.
Do đó, con cháu ở đâu thì Ông bà ở đó, hoặc Ông bà ở đâu thì con cháu ở đó. Điều đó có nghĩa là con cháu làm điều thiện thì Ông, bà, cha, mẹ mang tiếng tốt. Con cháu làm điều bất thiện, thì Ông bà cha mẹ mang tiếng không tốt. Ngược lại, Ông bà, Cha mẹ là những người có phước đức để lại phước đức cho con cháu nó nhờ. Ông bà, Cha mẹ là những người thiếu phước đức, thì hiện tại cũng như tương lai con cháu nó khổ lắm. Dĩ nhiên, con cháu nỗ lực tu tập và thực hành lời Phật dạy vào trong đời sống hằng ngày của mình, thì nó có thể chuyển hóa khổ đau thành an vui và hạnh phúc. 
Là người tỉnh thức, ai mà không muốn gia đình mình hạnh phúc, con cháu mình an vui. Hiểu được như vậy, chúng ta cố gắng làm những điều phước thiện để lại phước đức cho con cháu nó nhờ. Tuy phước đức không có hình tướng, không thể thấy được, nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc vun trồng và nuôi dưỡng đời sống tâm linh của mỗi chúng ta. Nó được xem như là năng lực từ trường tâm linh rất mạnh chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phước đức có thể thấy được là nhờ biểu hiện qua đời sống đầm ấm và hạnh phúc của gia đình, con cháu của ta lớn nhỏ đều được yên vui, học hành tới nơi tới chốn, đứa nào đứa nấy cũng có nghề nghiệp, công ăn việc làm ổn định, và lập gia thất.
Nếu là người cư sĩ, con cháu làm ăn phát đạt có tâm hộ trì và bảo vệ chánh pháp. Nếu là người xuất sĩ, con cháu dành nhiều thời gian tu học và hoằng pháp để đem đạo vào đời và giúp đời an vui và hạnh phúc. Nếu bạn là Phật tử hay không phải là Phật tử, bạn có thể xây dựng gia đình hạnh phúc, con cháu an vui bằng cách tôn kính Ông bà, phụng dưỡng Cha mẹ, không làm các việc ác, làm các việc lành, giữ thân tâm an lạc và thanh tịnh để đem lại phước đức cho tự thân và tha nhân ngay cuộc đời này.
Trên đây “thời gian xuân” được trình bày xong, tiếp đến, “không gian Xuân, hoàn cảnh Xuân và tâm Xuân” được trình bày chung với nhau. “Không gian Xuân” là không gian của lễ hội rộng lớn và nhộn nhịp. “Hoàn cảnh Xuân” là hoàn cảnh của lễ hội thanh bình và vui vẻ. Trong đó, mọi người cùng nhau vui xuân và vui lễ hội. “Thời gian Xuân, không gian Xuân, hoàn cảnh Xuân và tâm Xuân” có mối liên hệ với nhau rất mật thiết và không thể tách rời nhau. Chúng tách rời nhau được là vì người viết muốn trình bày từng phần để dễ viết, dễ đọc và dễ hiểu.
Trong “thời gian Xuân, không gian Xuân, hoàn cảnh Xuân và tâm Xuân,” “tâm Xuân” đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tạo ra muôn sự muôn vật trong vũ trụ, kể cả tạo ra “thời gian Xuân, không gian Xuân và hoàn cảnh Xuân.”   
 Tâm Xuân” là cái tâm an bình, vui vẻ, rộng lớn... Cái tâm này vừa chỉ cho cái tâm cá nhân vừa chỉ cho cái tâm cộng đồng bao trùm cả quốc gia và rộng lớn hơn nữa. Khi “tâm Xuân” của mình an bình rồi, thì “thời gian Xuân, không gian Xuân và hoàn cảnh Xuân” chắc chắn trở nên an bình, và ngược lại, khi “tâm Xuân” không an bình thì sức mấy mà chúng ta có được “thời gian Xuân, không gian Xuân và hoàn cảnh Xuân.” Tâm Xuân ngó vậy mà quan trọng lắm.

Tâm xuân vũ trụ đều xuân,
Tâm bình thế giới đâu đâu cũng bình.”

Tới điểm này, “tâm xuân” được hiểu là “Tâm Từ bi.” Chủ đề của bài viết này là “Xuân Từ Bi.” Chữ “Xuân” đã được trình bày ở trên, tiếp đến, người viết trình bày hai chữ “Từ và Bi(Pāli: Mettā and Karuna).
Từ Bi” nằm trong Tứ vô lượng tâm[1] (Sanskrit: catur-apramāavihāra; Pāli: catur-appamañña-vihāra) được gọi là “Từ vô lượng, Bi vô lượng, Hỷ vô lượng và Xả vô lượng.” Trong bài viết này, người viết chỉ trình bày “Từ vô lượng và Bi vô lượng” mà thôi.
Theo triết lí của đạo Phật, “Vô lượng” (Appamannā) có nghĩa là không ngằn mé, không ranh giới, không giới hạn, không phân biệt tôn giáo và không kì thị chủng tộc, v. v… “Từ Bi” trong đạo Phật có khả năng dung nhiếp và ôm ấp tất cả các học thuyết, tư tưởng và triết thuyết khác ở đời. Nó không những lưu hành và vận chuyển trong “thời gian Xuân, không gian Xuân, hoàn cảnh Xuân, mà còn trong thời gian Hạ, không gian Hạ, hoàn cảnh Hạ, Thu và Đông.” “Từ Bi” trong đạo Phật không những hòa quyện với bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, mà còn với ba thời: Quá khứ, Hiện tại và Tương lai. Nó vượt thoát thời gian.
Thực vậy, “Xuân Từ Bi” hiện hữu khắp nơi và khắp chốn khi nào mỗi chúng ta sống đời sống chánh niệm và tỉnh giác, vững chãi và thảnh thơi bằng cách hành trì và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình để đem lại an vui và hạnh phúc cho số đông. 
Theo định nghĩa thông thường, “Từ là ban vui; Bi là giúp người bớt khổ.” Dựa vào định nghĩa trên, chúng ta có nhiều định nghĩa tiếp theo như sau: “Từ là hoa trái của an vui; Bi là hiến tặng hoa trái an vui cho người. Từ là chất liệu của thương yêu; Bi là hiến tặng chất liệu thương yêu cho người. Từ là hạt giống tươi mát; Bi là hiến tặng hạt giống tươi mát cho người. Từ là hạt giống không kì thị; Bi là hiến tặng hạt giống không kì thị cho người. Từ là năng lực tu tập của chính mình; Bi là đem năng lực tu tập của chính mình để hiến tặng cho người khác.
Từ và Bi được định nghĩa như vậy cho dễ hiểu, chứ thật ra, Từ và Bi luôn đi đôi, đi ba, đi tư, đi năm, v. v… gắn kết với nhau rất chặt chẽ. Trong Từ có Bi và trong Bi có Từ. Trong Từ bi có các chất liệu khác như Hỷ và Xả, an vui và hạnh phúc, vững chãi và thảnh thơi. Người nào hiểu rõ và nắm vững được Từ và Bi là hiểu rõ và nắm vững những cái còn lại bởi vì trong Từ và Bi có đủ các đặc tính khác.


Từ và Bi là hoa trái của thương yêu luôn đi đôi với hiểu biết. Đến đây, Từ BiTrí huệ cùng đi song hành. Người nào có tu tập Từ Bi thì luôn ứng dụng thích hợp với cuộc sống hằng ngày.
Ví dụ, mình có thói quen hút thuốc và uống rượu, người thân người thương của mình khuyên mình nên bỏ hút thuốc và bỏ uống rượu, nhưng mình cứ khăng khăng hút thuốc và uống rượu, mình hỗng chịu bỏ, mình còn nói giỡn: “Thà bỏ người yêu của tôi, chứ bỏ hút thuốc và bỏ uống rượu thì tôi nhất định không bỏ.” Một hôm chúng ta có duyên đi dự khóa tu mùa Xuân một tuần nghe Thiền Sư Thích Nhất Hạnh giảng pháp và đề cập tới vấn đề “thương mình” và “thương người.’
Thương người” trước hết mình phải “thương mình.” “Thương cha thương mẹ, mình cũng phải thương mình.” “Thương mình” ngó vậy mà vững chãi lắm. “Thương mình” thì mình phải bảo vệ lá phổi của mình, lá gan của mình, trái tim của mình, v. v...Lá phổi, lá gan và trái tim của mình làm việc suốt ngày đêm, nó không bao giờ dừng nghỉ một giây một phút. Muốn sống lâu hơn và khỏe hơn, chúng ta phải tập bỏ hút thuốc và bỏ uống rượu dần dần. Bỏ đến khi nào chúng ta không còn hút thuốc và uống rượu nữa vì hút thuốc và uống rượu có khả năng làm hỏng cả thân lẫn tâm của chúng ta.
Ở điểm này, chúng ta cũng nên biết thêm “thức” và “trí.” “Thức” là kiến thức, là lí thuyết mà mình đã học; “Trí” là trí huệ, là sự tu tập, ứng dụng và thực hành kiến thức và lí thuyết mà mình đã biết đã học. Học mà không ứng dụng và thực hành thì chúng ta chỉ đạt kết quả tốt đẹp chỉ 50%. Còn học mà thực hành và ứng dụng cái hiểu, cái biết và cái kiến thức mà mình đã học vào trong cuộc sống hằng ngày của mình, thì ta đạt kết quả tốt đẹp 100%.
Ở đây nhấn mạnh về việc ứng dụng và thực hành. Học và hành đi đôi với nhau, thì việc học và việc hành đều mang ý nghĩa và giá trị trọn vẹn. Vậy khi nói và làm cùng đi đôi với nhau, thì mình nói người ta nghe, mình làm người ta mến và mình dạy người ta hiểu, và tất cả cùng nhau làm theo lời dạy của mình. Lúc bấy giờ, cái uy và cái lực của mình đối với quần chúng tăng lên và rất là giá trị.
Biết hút thuốc và uống rượu có hại cho sức khỏe, ta cứ tiếp tục hút thuốc và uống rượu, thì đó là cái biết về kiến thức về lí thuyết suông không có thực hành. Ngược lại, biết hút thuốc và uống rượu có hại cho sức khỏe, chúng ta dừng lại và buông bỏ hẳn, thì đó là cái biết về sự tu tập và thực hành. Hiểu được như vậy, thì chúng ta tập dừng lại, bỏ hút thuốc, và bỏ uống rượu uống bia. Sức khỏe và tuổi thọ của ta từ đây tăng trưởng và khỏe mạnh.
Thương như vậy là thương đi đôi với hiểu. Thương mình thì mình cố gắng dừng hút thuốc và dừng uống rượu; hiểu mình thì mình bỏ hút thuốc và bỏ uống rượu bia để bảo vệ sức khỏe, đời sống và tuổi thọ của mình. Sau khi thương và hiểu mình rồi, thì mình mới có thể trải rộng tấm lòng mình ra để hiến tặng cái thương cái hiểu của mình cho người khác. Cái thương mà mọi người đều hiểu, đều biết, đều thực hành và đều ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày là cái thương đích thực đi đôi với cái hiểu để đem lại an lạc và lợi ích cho số đông ngay trong cuộc hiện tại.
Trong tình yêu đôi lứa, nhân dịp đầu xuân, đi chơi với bạn bè, mình muốn yêu và quen một người mà mình tâm đắc; người tâm đắc là người có khả năng nói ái ngữ, lắng nghe, hiểu được mình và hiểu được người khác. Thương ai trước hết mình phải hiểu người mình thương. Mình xem thử cô nàng hay anh chàng có hợp ý với mình hay không? Nếu không hợp ý với mình, thì vị ấy chỉ là người bạn qua đường mà thôi. Nếu hợp ý với mình, thì vị ấy là người mà mình chọn làm bạn trăm năm.
Khi có duyên ăn ở với nhau, thì vợ chồng phải hòa thuận và tôn trọng ý kiến với nhau. Chúng ta biết thông thường mối tình ban đầu giữa hai người sống rất đẹp và rất đầm ấm, nhưng dần dần cái đẹp và cái đầm ấm ấy bị giảm, có khi bị tắt ngấm và mất hẳn.
Muốn duy trì và thắp sáng cái đẹp và cái đầm ấm ấy cho tự thân và cho gia đình dòng họ Nội ngoài hai bên, thì vợ chồng sống chung phải có trách nhiệm thông cảm, chi sẻ, giúp đỡ và tin tưởng với nhau bằng cách tu tập và quán chiếu như thế này.
Cái đẹp của vợ chính là cái đẹp của chồng, và ngược lại, cái đầm ấm của chồng chính là cái đầm ấm của vợ. Cái đẹp và cái đầm ấm của vợ chồng chính là nền tảng hạnh phúc của gia đình và con cái. Trong cái đẹp vật chất và cái đẹp tinh thần, trong cái đẹp thân thể và cái đẹp tính tình, cái đẹp tinh thần và cái đẹp tính tình là cái đẹp trên hết, tức là, cái đẹp đạo đức.
Sống chung với nhau, có lúc vợ chồng cãi vã với nhau. Muốn chấm dứt sự cãi vã, trước hết vợ chồng phải có mặt thật sự để tâm tình, chia sẻ, bày tỏ và nói ra những khó khăn và nỗi khổ niềm đau. Những gì người vợ nói thì người chồng lắng nghe và những gì người chồng nói thì người vợ ghi nhận và lắng nghe. Nói và lắng nghe với nhau bằng cái tâm thương yêu và hiểu biết, thì cả hai vợ chồng đều nhận diện: “Khó khăn của em chính là khó khăn của anh, và ngược lại, khổ đau của em chính là khổ đau của anh.”
Nhận diện được như vậy, thì vợ chồng dần dần chuyển hóa nỗi khổ niềm đau thành an vui và hạnh phúc. Vợ chồng an vui và hạnh phúc, thì con cái và gia đình nội ngoại hai bên cũng đều được an vui và hạnh phúc.
Nhân dịp mùa Xuân, chúng ta học, hiểu và ứng dụng giáo lí Từ Bi vào trong đời sống hằng ngày để đem lại an vui và hạnh phúc cho số đông. Từ Bi được áp dụng và thực tập không những trong mùa Xuân, mà còn trong mùa Hạ, mùa Thu và mùa Đông. Nói chung, Từ Bi được thực tập trong bốn mùa – suốt cả năm, khắp mọi nơi và mọi chốn. Những ai ứng dụng và thực tập Từ Bi trong cuộc sống, thì họ có khả năng đem lại an lạc và hạnh phúc tự thân và tha nhân. 
Trong định nghĩa Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng; Pháp được đức Thế Tôn và các vị Thánh đệ tử thuyết giảng rất thiết thực hiện tại, vượt thoát thời gian. Các vị hữu duyên đến để mà thấy, đến để mà nghe, đến để mà hiểu, đến để mà thực hành, và đến để nếm và thưởng thức được hương vị an lạc của chánh pháp. Pháp ở đây chỉ cho Từ Bi.
Pháp Phật thật nhiệm mầu,
Bảy[2] hạt biến mười[3]phương,
Cúng dường khắp tất cả.
Từ Bi không biên cương.
(Bài kệ Bố thí cho chúng sanh)

Thực tập Bài kệ trên một cách tinh chuyên, chúng ta có thể gặt hái được những hoa trái an vui và hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Nhờ pháp Phật thật mầu nhiệm nên chúng ta càng thực tập thì chúng ta càng nếm được pháp lạc bằng cách nương vào năng lực uy nghi của Đại chúng để tu học, để hoằng pháp và để giúp đời. Ở điểm này chư Tôn đức thường nhấn mạnh rằng “Đức chúng như biển.”
Trong lúc cúng cơm buổi trưa với Đại chúng, với tâm chánh niệm, một hành giả gắp bảy hạt cơm bỏ vào cái chén có ít nước chú nguyện bài kệ trên. Vị thị giả tiếp nhận và bưng chén cơm ấy tới một bàn thờ nhỏ bên ngoài xướng một bài Kệ súc sanh:

Bằng giọt nước trong sch,
Bằng tấm lòng Từ Bi,
Ta nay dâng cúng cơm này,
Ước mong tất cả
Các loài an vui.
(Người viết)

Sau khi xướng bài Kệ xong, vị thị giả bố thí cho các loài chim và kiến. Nhờ năng lực Từ Bi của Đại chúng, bảy hạt cơm này có thể biến khắp nhiều phương.

Hơn nữa, Từ Bi trong đạo Phật không phải là lí thuyết suông, Từ Bi không phải là món quà do một Thần linh ban tặng, mà là lời nói, ý nghĩ, và việc làm chánh niệm, thiết thực và cụ thể, đó là, không làm các điều ác, làm các điều lành, giữ tâm ý trong sạch bằng cách áp dụng và thực hành những lời Phật dạy vào trong đời sống hằng ngày.
Như vậy, Từ Bi trước hết phải xuất phát từ cái tâm vô lượng, bao la, rộng lớn như người mẹ hiền ôm ấp và nuôi dưỡng đứa con duy nhất của mình. Tâm Từ Bi của người mẹ chứa đầy năng lượng thương yêu có khả năng thấm vào và làm mát dịu cơn la khóc và nóng bức của người con. Tu tập tâm Từ bi giỏi, ta có thể chuyển hóa hận thù, sân giận, nóng bức, căng thẳng thành tình bạn, tình thương yêu, mát mẻ, mát lòng, lắng dịu, v. v…Kệ số 5 của Kinh Pháp cú ghi:

Hận thù diệt hận thù,
Đời này không thể có,
Từ Bi diệt hận thù,
Là định luật thiên thu.

Căn cứ vào bài kệ Pháp Cú ở trên, nếu các thành viên, công nhân, viên chức trong gia đình, học đường, công sở và trong nội các Chính phủ hiểu và thực hành giáo lí Từ Bi vào đời sống hằng ngày, thì họ có thể chuyển hóa người hận thành người thân, người thù thành người bạn, tôn giáo khác thành tôn giáo bạn, quốc gia đối lập thành quốc gia thân thiện để cùng nhau hợp tác kinh tế, giáo dục, khoa học, thương mại…
Theo tư tưởng đạo Phật, người có cái tâm sân giận và hận thù, chúng ta không thể dùng cái tâm sân giận và hận thù để đối trị và chuyển hóa họ được. Bởi vì càng dùng hận thù để đối trị hận thù, thì hận thù càng gia tăng, và ngược lại, càng dùng Từ Bi để đối trị hận thù, thì hận thù càng giảm. Do vậy, người có cái tâm sân hận và hận thù, chúng ta chỉ có thể dùng tâm Từ Bi để chuyển hóa họ, từ đó, họ trở thành người bạn thân thiện cộng tác đắc lực với mình.


Tóm lại, qua những gì đã đề cập ở trên, chúng ta biết Từ Bi trong đạo Phật không có biên cương, không có ranh giới và giới hạn trong tôn giáo, nó vượt ra ngoài cái vỏ tôn giáo, nó rất thiết thực hiện tại, nó là triết lí sống, là hơi thở, là sự sống và là mạch máu của chúng ta. Nếu học, hiểu, áp dụng, và thực hành giáo lí Từ Bi vào trong cuộc sống hằng ngày đúng nơi và đúng lúc, thì chúng ta có thể góp phần xây dựng người người hạnh phúc, nhà nhà yên vui, xã hội thanh bình và thịnh vượng ngay tại thế gian này.

Nhân dịp Xuân về, đề tài “Xuân Từ Bi” được viết và được trình bày ở đây làm món quà Xuân đầu năm để hiến tặng và cúng dường chư vị xuất sĩ, cư sĩ, Phật tử và không phải Phật tử để làm hành trang và tư lương cho cuộc sống. Sống an lạc, vững chãi và thảnh thơi trong từng hơi thở có ý thức và nụ cười an vui. Hãy trân quý sự sống còn lại của mình để làm an lạc và lợi ích cho số đông. Những ai có đủ duyên học hỏi và hành trì Phật pháp tinh chuyên, thì họ có thể gặp hái những hoa trái an vui và hạnh phúc đích thực ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.
Kính chúc Quý vị cùng người thân người thương của Quý liệt vị an trú vững chãi, thấm nhuần ánh sáng Từ bi và Trí tuệ của đức Thế Tôn, và thưởng thức mùa Xuân Di Lặc ấm áp và trọn vẹn.


Thích Trừng Sỹ


[1]  Xem http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-ngan/4tam-vn.htm
[2]  Con số 7 là con số tượng trưng chỉ 7 ngày đêm (từ thứ Hai tới thứ Nhựt); 7 tuần (= 49 ngày đêm Thiền định dưới cội cây Bồ đề); 7 đức Phật (đức Phật Tì Bà Thi, đức Phật Thi Khí, đức Phật Tì Xá Phù, đức Phật Câu Lưu Tôn, đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, đức Phật Ca Diếp, đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni ); 7 chúng đệ tử của đức Phật (Tì Kheo, Tì Kheo Ni, Thức Xoa Ma na, Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà tắc, và Ưu Bà Di); 7 Chi Phần Giác Ngộ (Niệm, Trạch Pháp, Tinh Tấn, Hỉ, Khinh An, Định, Xả); 7 báu (kim, ngân, lưu li, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não). Ngoài ra, thời gian có 3 (quá khứ, hiện tại, vị lai) không gian có 4 (phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc) cũng gọi là con số 7, v. v... Thật vậy, con số 7 là con số đặc thù của đạo Phật tượng trưng cho ngày và đêm, âm và dương, thời gian và không gian, sự giác ngộ, con đường hướng đến sự giác ngộ, v. v...
[3]  Mười phương là nhiều phương gồm có phương Trên, phương Dưới, phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc, phương Đông Nam, phương Tây Nam, phương Đông Bắc, phương Tây Bắc.

HT Chon Thanh


CUỘC ĐỜI VÀ CÔNG HẠNH CỦA
TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG  THÍCH CHƠN THÀNH
LIFE AND MERITORIOUS BEHAVIORS OF THE MOST VENERABLE THERO THÍCH CHƠN THÀNH
By Thầy Thánh Minh và Thầy Trừng Sỹ


         


I.            THÂN THẾ
Trưởng Lão Hòa thượng Thích Chơn Thành, một nhà sư bình dị, hài hòa, dễ mến, luôn nở nụ cười hoan hỷ, được giới trí thức, sinh viên du học Nhật thương mến, được cộng đồng người Việt và người Ngoại quốc rất quý kính với tên gọi thân thương: “Happy Monk.” Hòa thượng được trưởng dưỡng từ những dòng Thiền Phật Giáo Nhật Bổn, thăng hoa đời sống tâm linh. Thầy có cái nhìn mới và thời đại dẫn đến những việc làm lợi ích cho đạo và cho đời.
I.                  BIOGRAPHY
The Most Venerable Thero Thích Chơn Thành, who is a simple, harmonious, and lovely Monk, always opens a joyful smile, loved by the intellectuals, Japanese students, and Vietnamese and foreign communities very respectfully with beloved name: “Happy Monk.” The Venerable Master, who was nurtured from the Japanese Zen Buddhist lineage, sublimates spiritual life. He has new era viewpoints leading to benefits for Buddhism and people.    
Thế danh của thầy là Nguyễn Thứ, sinh ngày mùng 9 tháng 8 năm 1934, tại Xã Xuân Thọ, Quận Sông Cầu, Tỉnh Phú Yên, Việt Nam. Thân phụ của thầy là Cụ Ông Nguyễn Thanh, thân mẫu là Cụ Bà Võ Thị Đạt. Ngài là đệ tử của cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Quảng Liên, vị tu sĩ Phật Giáo Việt Nam đầu tiên được đi du học tại Hoa Kỳ vào năm 1956 với học bổng do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Cơ Quan Văn Hóa Mỹ cấp tặng.
His secular name is Nguyễn Thứ, who was born on August 9, 1934 in Xuân Thọ Commune, Sông Cầu District, Phú Yên Province, Vietnam. His father is Mr. Nguyễn Thanh, his mother is Mrs. Võ Thị Đạt. He is the disciple of the Late Most Venerable Thero Thích Quảng Liên, the first Vietnamese Buddhist Monk to study abroad in the United States of America in 1956 with scholarships granted by the US. Department of State and the American Cultural Agency.  

Chân dung Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Quảng Liên, Sư Phụ của Hòa thượng Thích Chơn Thành.
Portrait of the Late Most Venerable Thero Thích Quảng Liên, Master of the Most Venerable Thích Chơn Thành.


Bổn sư của thầy đã tốt nghiệp Đại Học Yale, thành phố New Haven, thuộc tiểu bang Connecticut, miền Đông Hoa Kỳ với bằng Tiến Sĩ về chuyên ngành nghiên cứu về kinh tế, văn hóa Đông Nam Á vào năm 1960.
His Dharma Master graduated from Yale University, New Haven, Connecticut, Eastern United States with a Ph.D. in economics research, Southeast Asian culture in 1960.
II.         THỜI KỲ XUẤT GIA TU HỌC
 Năm 1951, Phật giáo Việt Nam hoà mình cùng Phật giáo Thế giới. Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Quảng Liên được Tổng Trị Sự Phật Giáo Việt Nam cử đại diện cho Hội Phật học Nam Việt đi du học tại Trường Phật Giáo Thế Giới Colombo và Trường Đại học Quốc Gia KanDy – Tích Lan.
II.    MONASTIC PERIOD AND STUDY
In 1951, Vietnamese Buddhism has merged with World Buddhism. The Late Most Venerable Thero Thích Quảng Liên was represented by the Vietnamese Buddhist General Executive for the Vietnamese Buddhist Association to study at Colombo World Buddhist College and KanDy National University – Sri Lanka.    
Năm 1956, sau khi tốt nghiệp Cử nhân, Trưởng Lão Hòa thượng Thích Quảng Liên về Phú Yên thăm quê hương. Khi nhân duyên lành đã đến, trong dịp này, hai  học trò của Trưởng Lão đã  đến đảnh lễ Quy Y và xin xuống tóc xuất gia với Trưởng Lão Hòa thượng Quảng Liên, được bổn sư ban cho pháp danh là Chơn Thành và Chơn Định. Sau đó, Hòa thượng đã dẫn dắt vô Nam gởi hai vị đệ tử của mình vào Chùa Ấn Quang ở địa chỉ số 243 đường Sư Vạn Hạnh, Quận 10, Sài Gòn, Chợ Lớn để  tu học Phật Pháp. Hòa Thượng Quảng Liên đã nhận được học bổng do Cơ Quan Văn Hóa Hoa Kỳ trao tặng và Hòa thượng đã tốt nghiệp tiến sĩ chuyên ngành nghiên cứu về vấn đề kinh tế, văn hóa Đông Nam Á tại Đại Học Yale, thành phố New Haven, tiểu bang Connecticut, Hoa Kỳ năm 1960.
In 1956, after graduating from the Bachelor, the Most Venerable Master Thích Quảng Liên returned to Phu Yen to visit his hometown. When auspicious conditions came, on this occasion, two disciples of the Venerable Master came to prostrate to take refuge in him and asked to be shaved their hair to be ordained as novice Monks with the Venerable Master Quảng Liên, who granted them the Dharma names: Chơn Thành and Chơn Định. After that, the Venerable Master led his disciples to the South of Vietnam and sent them to Ấn Quang Temple at 243 Sư Vạn Hạnh, District 10 (Chợ Lớn, Sài Gòn City) to study the Buddhadharma. The Venerable Master Quảng Liên recieved a scholarship awarded by the US. Cultural Agency and he graduated with a doctorate in Southeast Asian economic and cultural studies at Yale University, New Haven City, Connecticut, USA in 1960.


Chùa Ấn Quang lúc bấy giờ là trụ sở của Giáo hội Tăng già Nam Việt, với công trình xây dựng dãy lầu nhà Tổ, trai đường, nhà in Sen Vàng, xưởng nhang Bồ Đề, thư viện, nhà xuất bản, nhà phát hành Hương Đạo vừa mới được xây xong và Chánh Điện được tôn tạo, dãy lầu nhà giảng đường, Tăng xá cũng vừa được tái thiết lại. Nhờ công hạnh của Cố Trưởng Lão Hoà thượng Thích Thiện Hòa, một vị Hòa thượng đức hạnh khiêm cung, trọn đời hiến thân cho đạo Pháp và dân tộc, kiến tạo xây dựng Chùa, Tháp, tiếp độ chúng sanh, và đào tạo Tăng tài, nên Tổ Đình Ấn Quang là cái nôi đào tạo nhiều danh tăng thạc đức qua từng thời kỳ, đóng góp nhiều trí tuệ cho việc hoằng truyền Chánh pháp, xây dựng ngôi nhà Phật giáo Việt Nam vững mạnh ở thế kỷ XX và XXI.
Ấn Quang Temple at that time was the headquarters of the Church of the Southern Vietnamese Sangha, with the construction works of Patriarchal house floors, dining room, Sen Vàng printing house, Bodhi incense workshop, library, publishing house, Hương Đạo Publisher had just been built and the Buddha Hall had been renovated, the floors of the lecture hall and monastic houses had just been rebuilt. Thanks to the meritorious conduct of the Late Most Venerable Thich Thien Hoa, the virtuous, modest, and respectful Venerable Master, who dedicated his whole life to the Dharma and to the people, created the Temple, Stupa, helped human beings, and trained talented and virtuous people. Ấn Quang Root Temple is a cradle of training many Monastics through periods, contributing much wisdom to the Dharma propagation, building a strong Vietnamese Buddhist house in the twentieth and the twentieth-first.
Năm 1957, thầy Chơn Thành thọ giới giới Sa Di tại Tổ Đình Ấn Quang. Vài năm sau, thầy được phép tham học tại Phật Học Đường Lưỡng Xuyên, nơi đây từng là nơi đào tạo nhiều danh tăng góp phần chấn hưng Phật giáo Việt Nam như  các vị Tôn đức Trưởng Lão gồm có Cố Hòa thượng Thích Hành Trụ, Thích Thiện Hoa, Thích Thiện Hòa v.v... Sau Phật học Đường Lưỡng Xuyên, tiếp tục theo học Phật Học Viện Giác Sanh được ba năm, thầy Chơn Thành trở về tu học và ở với Hòa Thượng Sư Ông Thích Vĩnh Thọ, Trú Trì Tổ Đình Linh Sơn Trường Thọ trên Núi Tà Cú, do Tổ Hữu Đức, bậc cao Tăng từ Phú Yên vào khai sơn.
In 1957, Master Chơn Thành was ordained as a Novice Monk at Ấn Quang Root Temple. A few years later, he was allowed to attend the Lưỡng Xuyên Buddhist Academy, where it was used to be a place of training many outstanding Monastics contributing to the revival of Vietnamese Buddhism as the Honored Venerable Elders consisted of the Late Most Venerable Monk Thích Hành Trụ, Monk Thích Thiện Hoa, Monk Thích Thiện Hòa, etc. After Lưỡng Xuyên Buddhist Academy, keeping studying Giác Sanh Buddhist Academy for three years, Master Chơn Thành returned to study and lived with his Master’s Most Venerable Master Thích Vĩnh Thọ, the abbot of Linh Sơn Trường Thọ Root Temple on Tà Cú Mountain founded by Hữu Đức Patriarch, the famous Monk coming from Phú Yên Province.
       
Sau khi Thượng tọa Thích Quảng Liên tốt nghiệp Tiến Sĩ trường Đại học Yale, Hoa Kỳ vào ngày 4 tháng 8 năm 1960, Thượng tọa trở về thăm Việt Nam. Ở Việt Nam, cùng với Thượng tọa, có thầy Chơn Thành và Giáo sư Richard A. Gard của Đại học Yale, Hoa Kỳ, đến thăm Phật Học viện Hải Đức Nha Trang và tìm hiểu tổ chức Phật Giáo Việt Nam. Trong chuyến đi này, thầy Chơn Thành được Bổn Sư cho phép đi cùng. Sau một tuần lễ lưu trú tại Học Viện Thượng tọa Bổn Sư đã thỉnh ý Thượng tọa Giám viện Thích Trí Thủ và được Ngài hoan hỷ đồng thuận cho thầy Chơn Thành được nhập chúng tu học Phật pháp tại đây khoảng 2 năm. Ban Quản Trị điều hành Học Viện lúc bấy giờ gồm có:
After Senior Venerable Master Thích Quảng Liên graduated with a Ph.D. from US. Yale University on August 4, 1960, he returned to Visit Vietnam. In Vietnam, along with him, there were Venerable Chơn Thành and Professor Richard A. Gard of this University visiting the Hải Đức Buddhist Academy in Nha Trang and learning about Vietnamese Buddhist organization. During this trip, the Venerable Chơn Thành was allowed to go together with his Master. After a week of staying at the Buddhist Institute, his Master asked Senior Venerable Monk Thích Trí Thủ, who was in charge of the Institute, agreed with the Venerable Chơn Thành to join the Sangha to study the Buddhadharma there around 2 years. The Executive Boards that administer the Institute at that time includes:

1.          Viện Trưởng: Hòa Thượng Thích Thuyền Tôn
2.          Phó Viện Trưởng: Thượng tọa Thích Trí Quang
3.          Giám Viện: Thượng tọa Thích Trí Thủ
4.          Giáo Thọ Trưởng: Thượng tọa Thích Thiện Siêu
5.          Tổng Thủ quỹ: Thượng tọa Thích Thiện Minh
6.          Tổng Thư ký: Thượng tọa Thích Huyền Quang.

1.           Rector:                          The Most Venerable Master Thích Huyền Tôn
2.           Vice Rector:                 Senior Venerable Master Thích Trí Quang
3.           Supervisor:                             Senior Venerable Master Thích Trí Thủ
4.          Chief Dharma Teacher:         Senior Venerable Master Thích Thiện Siêu
5.           Treasurer General:                 Senior Venerable Master Thích Thiện Minh
6.          Secretary General:                 Senior Venerable Master Thích Huyền Quang


Năm 1962, thầy Chơn Thành về lại Phật Học Đường Nam Việt, Chùa Ấn Quang, Chợ Lớn, Sài Gòn.
In 1962, the Venerable Monk Chơn Thành turned back to the Southern Buddhist Institute, Ấn Quang Root Temple in Chợ Lớn, Sài Gòn City.


Năm 1963, thầy tham gia phong trào tranh đấu của Phật Giáo đòi quyền bình đẳng tôn giáo và chống chế độ độc tài gia đình trị của nhà họ Ngô. Năm 1964, thầy thọ Cụ Túc giới tại Đại Giới Đàn Quảng Đức do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức lần đầu tiên tại Việt Nam Quốc Tự. Trong Giới Đàn này, Vị Tăng Thống, Trưởng Lão Thích Tịnh Khiết làm Hòa thượng Đàn Đầu. Trưởng Lão Thích Trí Tịnh làm Hòa thượng Tuyên Luật Sư. Trưởng Lão Thích Thiện Hòa làm Hòa thượng Yết-ma-a-xà-lê Sư.
          In 1963, he joined the movement of the struggle of Buddhism to demand religious equality and be against the dictatorship of nepotism of the Ngo family. In 1964, he was ordained as a Bhikkhu on the Great Precepts of Quảng Đức Platform held for the first time at Vietnam National Buddhist Temple by the Unified Vietnamese Buddhist Congregation. On this Platform, the elected Sangha King, the Elder Master Thích Tịnh Khiết made the Most Venerable Head Monk. The Elder Master Thích Trí Tịnh made the Most Venerable Preceptor of Virtuous Paragon. The Elder Master Thích Thiện Hòa made the Most Venerable Ācārya Preceptor.
      

Từ năm 1966 đến 1969, thầy Chơn Thành theo học Phân khoa Văn Học và  Khoa Học Nhân Văn tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Thầy đã tốt nghiệp cử nhân Triết Học. Lúc đó, nương theo vài câu nói của các bậc tiền nhân, thầy ý thức lập nguyện Bồ-tát đi vào đời để cứu độ chúng sinh. Thầy nói bằng thơ:
From 1966 to 1969, the Venerable Chơn Thành studied the Faculty of Literature and Humanities Science at Van Hanh University Institute, Saigon. He graduated with a B.A. in Philosophy. At that time, relied on a few statements of predecessors, he was aware of setting up the Bodhisattva vows to go into life to help sentient beings. He sayed by poem:  
Con là Sứ Giả Như Lai
Phát nguyện suốt đời hiến dâng Tam Bảo
Phụng sự chúng sinh tức cúng dường Chư Phật
Chỗ nào chúng sanh mời, con đến
Chỗ nào Đạo pháp cần, con đi
Không kể gian lao và chẳng từ khó nhọc.”
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

“I am a messenger of Tathagata
Vowing his whole life to dedicate the Three Jewels
Serving beings means make offerings to Buddhas
Where sentient beings invite me, I will come there
Where the Dharma needs me, I will go there
Regardless of hardships and adversities.”
Namo the Original Master Sakyamuni Buddhaya.



  
III.   LÝ DO VÀ VÀ THỜI GIAN XUẤT DƯƠNG DU HỌC VÀ HOẰNG PHÁP TẠI NHẬT BỔN
Khi còn là một sinh viên Tăng, thầy Chơn Thành đang tu học Phật Đường Nam Việt ở Chùa Ấn Quang. Lúc bấy giờ, Hòa thượng Thích Thiện Hoa đi tham dự Đại Hội Phật giáo thế giới tại Nhật Bản, Hòa thượng kể cho các sinh viên Tăng nghe về sự tiến bộ và phát triển của Phật giáo Nhật Bản. Sau khi nghe những lời kể của Hòa thượng và sau khi đọc bài của Cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền viết về mười lăm ngày tham quan nước Nhật, thầy Chơn Thành nhận thấy rằng đây là những yếu tố quan trọng thôi thúc thầy đi du học tại Nhật Bản.

III. REASON AND TIME TO STUDY ABROAD AND PROPAGATE THE DHARMA IN JAPAN
When being a Monk student, Venerable Chơn Thành was studying the Southern Buddhist Institute at Ấn Quang Root Temple. At that time, the Most Venerable Master Thích Thiện Hoa went to attend the World Buddhist Conference in Japan, the Venerable Master told the Monastic students about the progress and development of Japanese Buddhism. After the Venerable Master’s words and after reading the article written by Mr. Chánh Trí Mai Thọ Truyền about fifteen days of visiting Japan, Venerable Chơn Thành realized These are important factors motivating him to study abroad in Japan.   
Những lời ước nguyện của thầy Chơn Thành đã thành tựu. Ngày 3 tháng 4 năm 1970, thầy xuất dương sang Nhật Bản học Nhật Ngữ tại trường Kokusai ở thủ đô Tokyo. Trong tiếng Nhật, Tokyo có nghĩa là “Kinh đô ở phía Đông.” Văn hóa Đông Kinh được hấp thụ tinh hoa của văn học Phật Giáo Triều Tiên, Trung Hoa, Ấn Độ, nhưng người Nhật đã biết chọn lọc những điều thích hợp với dân tộc họ. Vào năm 587, đạo Phật chính thức được công nhận ở Nhật Bản. Thái tử Shotoku ban Hiến pháp 17 điều, trong điều thứ hai có ghi: “Dốc lòng tín ngưỡng nơi Tam bảo, quy y theo Phật, Pháp, Tăng. Dứt bỏ tà tâm, tuyệt đối tuân theo giáo lý nhà Phật.”
Venerable Chơn Thành’s wishes were well accomplished. On April 3, 1970, he went to Japan to study Japanese at Kokusai School in Tokyo. In Japanese, Tokyo means “the Capital in the East.” Đông Kinh culture absorbed the essence of Korean, Chinese, and India Buddhist literature, but the Japanese knew how to select appropriate things for their people. In 587, Buddhism was officially recognized in Japan. Prince Shotoku proclaimed the Constitution of 17 articles, in the second article saying: “Steeping in confidence in the Three Jewels, taking refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Abandoning the evil mind, absolutely obeying the Buddhist teachings.”   




 Sau thời gian học tiếng Nhật, Thầy Chơn Thành đã thi đậu và chính thức trở thành sinh viên của Đại Học Lập Chánh (Risshò University) ở Tokyo. Đại học Rissho là một trường đại học lớn của Nhật Bản có 15 Phân khoa đại học và 7 Phân khoa hậu đại học, trong đó có Khoa Phật học và khoa Phật giáo Nhật Liên tông do ngài Nhật Liên thánh nhân sáng lập năm 1222-1282.  
Ngài Nhật Liên thánh nhân chuyên giảng dạy về kinh Pháp hoa. Những đệ tử của ngài hàng ngày chuyên trì các danh hiệu của Kinh Pháp Hoa: “Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh – Namu Myōhō Renge Kyō -南無妙法蓮華経.” Điều này cũng tương tự như hành giả tu theo pháp môn Tịnh độ, chuyên trì danh hiệu của Đức Phật A Di Đà.
After the time of studying Japanese, Venerable Chơn Thành passed and officially became a student of Risshò University in Tokyo, Japan. Risshò University is a large Japanese University with 15 University Faculties and 7 post-graduate Faculties, including Buddhist Studies Faculty and Nichiren Buddhist Faculty founded by his Holiness the Nichiren Master in 1222 –1282.
The Nichiren Master is a saint who specializes in teaching Lotus Sūtra (S. Saddharma Puṇḍarīka Sūtra). His disciples daily specialized in maintaining the titles of the Lotus of Sutra name: “Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh – Namu Myōhō Renge Kyō -南無妙法蓮華経.” This is similar to the practitioners practicing the the Pure Land Method, specializing in maintaining the titles of Amitabha Buddha.
Cổng trường Đại học có bốn trụ làm bằng đá rất đơn giản, nhưng rất mỹ thuật. Trên hai đầu cổng chính có khắc các hình con sư tử mô phỏng theo trụ đá thời vua A Dục bên Ấn Độ.  Trên các trụ đá này có khắc bức thông điệp hòa bình tiêu biểu cho nền tảng giáo dục của nhà trường với ba nội dung chính như sau:
1.      Tìm cầu chân lý, nêu cao lòng chân thành (真実を求め至誠を捧げよう).
2.      Tôn vinh điều thiện, bỏ các việc xấu ác (正義を尊び邪悪を除こう).
3.      Cầu nguyện hòa bình, phục vụ nhân sinh (和平を願い人類に尽そう).
          The University gate with four pillars made of stones is very simple, but very artistic. On both ends of main gates which are engraved lion shapes simulate stone pillars of King Ashoka’s periods in India. On these stones that are engraved a peace messeage symbolize the School’s educational foundation with three main contents as follows:
          1.      Find the truth, raise high up the sincere heart (真実を求め至誠を捧げよう).
          2.      Glorify the good deeds, abandon the evil ones (正義を尊び邪悪を除こう).
          3.      Pray for peace, serve human life (和平を願い人類に尽そう).




Hình thầy Khải Thiên chụp ở cổng Đại Học Risshò, Nhật Bản.
Venerable Khải Thiên’s picture was taken at the gate of Risshò University, Japan.

Những pháp hữu đương thời cùng tu học với thầy Chơn Thành gồm có thầy Thích Minh Tâm, thầy Thích Nguyên Đạt, thầy Thích Trí Hiền, Ông Lâm Như Tạng, v.v… Hiện nay, Hòa thượng Thích Minh Tâm ở Chùa Khánh Anh Pháp quốc và Hòa thượng Thích Trí Hiền ở Chùa Pháp Quang Dallas, Texas đã đi về cõi Phật. Từ năm 1975 về sau, vì hoàn cảnh khó khăn của đất nước, thầy Chơn Thành không còn nhận nguồn tài trợ từ quê nhà Việt Nam nữa. Trong thời gian tu học tại Đại Học Risshò ở Nhật Bản ba năm, thầy phải vừa đi học, vừa đi làm thêm để kiếm tiền trang trải cho học phí Đại Học khoảng $30,000.00 một năm. Thầy đã không nề hà nặng nhọc việc làm và đã từng phải đi giao từng tô mì cho mọi người để lấy tiền đóng tiền học.
The contemporary Dharma friends studied together with Venerable Chơn Thành including Venerable Master Thích Minh Tâm, Venerable Master Thích Nguyên Đạt, Venerable Master Thích Trí Hiền, Mr. Lâm Như Tạng, etc. At present, Master Thích Minh Tâm at Khánh Anh Temple in France and Master Thích Trí Hiền at Pháp Quang Temple in Dallas, Texas, both passed away and went to the Buddha’s realm. From 1975 onwards, because of the difficult situation of the country, Venerable Chơn Thành no longer received funding from his homeland Vietnam. During his studies at Risshò University in Japan for 3 years, he had to go to school and work part-time to earn money to pay for University tuition of about $30,000.00 a year. He did not care about hard work and once had to deliver each bowl of noodles for everyone to get money to pay for school fees.  


Có những lần vì thầy không quen lái xe đạp bằng một tay, tay kia còn lại thì bưng tô mì nhưng xui xẻo bị rớt đổ một tô mì thì tiền công ngày hôm đó coi như bị mất trắng, không được đồng nào. Thầy đã từng làm nhà hàng và đã từng đứng xếp hàng chờ đợi có ai đó đến mướn thầy làm công, hoặc khuân vác nặng nhọc để có tiền đóng học phí. Khi nói tới đây, người viết cảm thấy rất xúc động cho những ai đang du học xa nhà. 
There were times when he was not used to driving a bicycle with one hand, his other hand was holding a bowl of noodle, but unlucky, the bowl of noodle was dropped, the wages of that day seemed to be lost, he had no money at all. He used to do a restaurant and to stand in line waiting for someone to hire him to work or carry something heavy to earn money to pay tuition. When speaking of this, the writer feels very touched with those who are studying abroad.  

  




Mặc dù thầy vừa đi học vừa đi làm để kiếm tiền đóng học phí, nhưng chất liệu tu tập và ý chí tự lập của thầy luôn được vun trồng và nuôi dưỡng mạnh mẽ trong những tháng năm du học và hành đạo ở xứ người. Chính thời gian này đã giúp thầy có nghị lực phi thường và tư duy sâu thẳm về bản chất của cuộc đời và phương thức hành đạo. Từ thời gian đó cho tới bây giờ, thầy luôn thông cảm và hiểu cho các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn ở trong nước như ở nước ngoài. Mỗi khi có dịp lành, quý thầy, quý Sư cô trẻ tới thăm Chùa thầy, thầy luôn động viên và sách tấn mọi người nên giữ gìn tâm Bồ-đề ban đầu. Khi tâm Bồ-đề phát triển, mọi khó khăn, chướng ngại, và thử thách đều sẽ nhiếp phục và vượt qua. Trong thời gian tu học ở Nhật Bản, mặc dù bận làm nhiều công việc, nhưng việc tu tập hằng ngày của thầy như thiền tập, trì chú Đại Bi, thầy luôn áp dụng vào đời sống để làm lợi lạc cho thân tâm. Lúc đó, sở thích của thầy là viết cuốn Thánh Kinh Thiện Thệ bằng tay tại Nhật Bản.
Although he both went to school and work to earn money to pay tuition, the substance of his cultivation and self-will was always cultivated and nurtured strongly in his study and practice abroad years. It was this time that helped him to have extraordinary energy and deep thinking about the nature of life and the way of Dharma practice. From that time until now, he always sympathizes and understands students with difficult circustances in the country as well as abroad. Whenever there is a good occasion, young monastics visit his Temple, he always encourages and upholds them to keep their initial Bodhi minds. When their Bodhi minds develop, all difficulties, obstacles, and challenges will be controlled and overcome. In his study time in Japan, although he was busy doing many tasks, his daily cultivation such as Meditation practice, Great Compassion Mantra practice, he always applied it into his daily life to benefit the body and mind. At that time, his hobby was to write the Sacred Compassion Book by hand in Japan.

Từ năm 1970 đến 1973, thầy Chơn Thành giữ chức vụ Chi Bộ Phó Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Nhật Bản. Cứ mỗi tháng hay mỗi hai tháng, quý Thầy, quý Sư Cô trong Ban Điều Hành họp định kỳ một lần. Chi Bộ Phật Giáo Việt Nam tại Nhật Bản quyết định ra một tập san Phật Giáo, xuất bản ban đầu mỗi tháng một lần bằng hai ngôn ngữ Việt, Nhật.
          From 1970 to 1973. Venerable Chơn Thành held the position of Deputy Minister of the Unified Vietnamese Buddhist Church in Japan. Every month or every two months, monastics in the Executive Board had a meeting once. Vietnamese Buddhist Ministry in Japan decided to create a Buddhist journal, initially published once a month in Vietnamese and Japanese.

Từ năm 1973 đến 1975, thầy Minh Tâm làm Chi Bộ Phó, thầy Chơn Thành làm Chi Bộ Trưởng, và Ông Lâm Như Tạng giữ chức vụ Tổng Thư Ký Chi Bộ Phật Giáo Việt Nam tại Tokyo, Nhật Bản.
          From 1973 to 1975, Venerable Minh Tâm made the Deputy Minister, Venerable Chơn Thành made the Chief Minister, and Mr. Lâm Như Tạng held the position of the Secretary General of the Vietnamese Buddhist Ministry in Tokyo, Japan.




Do ảnh hưởng các ý thức hệ của ngoại bang, nên các cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam leo thang khốc liệt. Đất nước và con người Việt Nam trở nên lầm thang, đói, khổ, và lạc hậu. Lúc đó, chư Tăng, Ni Việt Nam đang du học tại Nhật Bản đã tích cực tham gia tranh đấu bất bạo động cho hòa bình và bảo vệ lý tưởng tự do, dân chủ cho người Việt Nam. Họ đã vận động các giới chức Nhật Bản, tham gia các cuộc biểu tình tuyệt thực, các cuộc hội nghị tại Kyoto, và vận động quyên góp để cứu trợ cho nạn nhân chiến tranh và cô nhi quả phụ. 
Due to the influence of foreign ideologies, the wars between the South and the North of Vietnam escalated fiercely. The country and people of Vietnam became misled, hungry, suffered, and backward. At that time, Vietnamese Monks and Nuns studying in Japan actively participated in fighting nonviolence for peace and protecting the ideals of freedom and democracy for Vietnamese people. They lobbied Japanese officials, participating in hunger strikes, conferences in Kyoto, and mobilized to aid victims of war, orphans, and widows.  







Tháng 3 năm 1975, thầy Chơn Thành làm Chủ Tịch Ủy Ban Vận Động Cứu Trợ Nạn Nhân Chiến Tranh Việt Nam.
In March, 1975, Venerable Chơn Thành made a Chairman of the Committee advocate for relief of victims of the Vietnam war.




Lúc 7:30 tối ngày 10 tháng 6 năm 1975, đài Truyền Hình NHK của Chính Phủ Nhật Bản đã cho chiếu cuốn phim truyện về cuộc đời “Ông Sư Việt Nam” (Betonamu No Obosau). Từ đó tên tuổi của vị thầy đã được Đại Thành Nhật Bản biết đến khắp nơi.
At 7:30 p.m. on October 6, 1975, NHK television station of the Japanese government showed a feature film about the life of “Vietnamese Monk” (Betonamu No Obosau). His name has been known everywhere by Dai Cheng in Japan.




Năm 1978, thầy Chơn Thành, một trong những vị lãnh đạo các phong trào đấu tranh tự do tôn giáo và nhân quyền cho Việt Nam, đã có nhiều lần tuyệt thực. Năm 1981, thầy tham dự Đại Học Quốc Tế với những bài tham luận ý nghĩa. Năm 1983, lần đầu tiên, thầy chính thức tham quan đất nước Hoa Kỳ. Ngày 01 tháng 3 năm 1984, thầy viếng thăm Trung Quốc theo lời mời của Chính Phủ Bắc Kinh.
          In 1978, Venerable Chơn Thành, one of the leaders of the movements of fighting for religious freedom and human rights for Vietnam, had many hunger strikes. In 1981, he attended International University with meaningful papers. In 1983, for the first time, he officially visited the United States of America. On March 1, 1984, he visited China at the invitation of the Beijing Government.


nb12 (2).JPG

IV.   THỜI GIAN ĐỊNH CƯ VÀ HOẰNG PHÁP TẠI HOA KỲ
Năm 1985, nhận lời mời và chấp thuận của Tổng Thống Ronald Reagan Hoa Kỳ, Hòa thượng Chơn Thành chính thức định cư tại Hoa Kỳ. Những năm đầu, Hòa thượng lưu trú ở Chùa Phật Tổ do Cố Hòa thượng Thích Thiện Thanh khai sơn tại thành phố Long Beach, tiểu bang California.
Năm 1987, Hòa thượng Chơn Thành khai sơn Chùa Liên Hoa và làm trú trì tới năm 1995, Chùa Liên Hoa đã được xây dựng hoàn tất ở thành phố Garden Grove, tiểu bang California.  
IV.   TIMES OF SETTLEMENT AND DHARMA PROPAGATION IN AMERICA
In 1985, receiving the invitation and approval of the US. President Ronald Reagan, the Most Venerable Master Chơn Thành officially settled in the United States of America. In his first years, he stayed at Phật Tổ Temple founded by the Late Most Venerable Thích Thiện Thanh in Long Beach City, California State.
In 1987, he founded Liên Hoa Temple and made the Abbot until 1995, the Liên Hoa Temple was built completely in Garden Grove, California.
Năm 1998, Hòa thượng Chơn Thành đi dự Lễ Truyền Giới Đại Giới Đàn Hương Sơn tại Chùa Pháp Bảo do Hòa thượng Thích Bảo Lạc khai sơn ở thành phố Sydney, Úc Châu. Trong buổi Lễ này, Trưởng Lão Thích Như Huệ được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn Đầu, Trưởng Lão Thích Minh Tâm được cung thỉnh làm Hòa thượng Yết Ma, và Trưởng Lão Thích Chơn Thành được cung thỉnh làm Hòa thượng Giáo Thọ Sư A-xà-lê. Lúc đó, quý thầy Thích Quảng Ba, Thích Phước Nhơn, Thích Minh Trí, và Thích Bổn Điền An Thiên được tấn phong giới phẩm Thượng tọa dưới sự chứng minh và hướng dẫn của quý Trưởng Lão Hòa thượng.
In 1998, the Most Venerable Master Chơn Thành went to the Precepts transmitting Ceremony on the Great Precepts of Hương Sơn Platform at Pháp Bảo Temple, founded by the Most Venerable Master Thích Bảo Lạc in Sydney, Australia. In this Ceremony, the Elder Master Thích Như Huệ was invited the position of the Most Venerable Head Monk, the Elder Master Thích Minh Tâm was invited the position of the Most Venerable Karmadana Master, and the Elder Master Thích Chơn Thành was invited the position of the Most Venerable Ācārya Preceptor. At that time, Venerable Thích Quảng Ba, Venerable Thích Phước Nhơn, Venerable Thích Minh Trí, and Venerable Thích Bổn Điền An Thien were ordained as the Senior Venerable Ranks under the proof and guidance of the Most Venerable Elder Masters. 
Bên trái là Trưởng Lão Hòa thượng Thích Minh Tâm, Giữa là Trưởng Lão Hòa thượng Thích Như Huệ, và bên phải là Trưởng Lão Hòa thượng Thích Chơn Thành.
On the left side is the Most Venerable Thero Thích Minh Tâm, on the middle side is the Most Venerable Thero Thích Như Huệ, and on the right side is the Most Venerable Thero Thích Chơn Thành.


Cố Trưởng Lão Hòa thượng Thích Quảng Liên
The Late Most Venerable Thero Thích Quảng Liên


Năm 2000, khi có đầu đủ duyên lành, Trưởng Lão Hòa thượng Thích Quảng Liên, Sư Phụ của Hòa thượng Thích Chơn Thành, viếng thăm Chùa Liên Hoa ở thành Phố Garden Grove, California.
Chùa Liên Hoa, một tổ chức bất vụ lợi, Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Việt, Nhật, và Mỹ, có nhiều lớp học khác nhau như lớp tiếng Nhật, tiếng Việt, Âm Nhạc, Võ Thuật, và lớp học Phật Pháp.
In 2000, when having enough wholesome conditions, the Most Venerable Thero Thích Quảng Liên, Master of the Most Venerable Monk Thích Chơn Thành, visited Liên Hoa Temple in Garden Grove, California.
          Liên Hoa Temple, one non-profit organization, Vietnamese, Japanese, and American Cultural Center, has different classes such as Japanese class, Vietnamese class, music class, Kung Fu class, and Dharma class.    



Trưởng Lão Hòa thượng Thích Chơn Thành là Phó Tăng Thống của Giáo Hội Liên Tông Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.  
Năm 2008, Hòa thượng là thành viên Hội Đồng Trưởng Lão Viện Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
     The Most Venerable Thero Thích Chơn Thành was Deputy Sangha President of Inter-Sects Church of Vietnamese Buddhism in the United States of America.
     In 2008, he was a member of the Council of Elders of the Sangha President Institute of the Unified Vietnamese Buddhist Church.
vu-1-lan-chua-bao-quang-dsc-0788.jpg

Năm 2012, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới tổ chức Đại Hội Khoáng Đại Kỳ 10 tại Tu Viện Viên Quang. Trong Đại Hội này, Hòa thượng Thích Chơn Thành được suy cử ngôi vị Phó Thượng Thủ. Từ Năm 2015 đến nay, Chùa Liên Hoa nơi thầy trụ trì đã trở thành Văn Phòng của Hội Đồng Lãnh Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới. Ngài đã soạn thảo nhiều Thông Bạch cho các Đại Hội. Hiện nay, Hòa thượng là một trong những vị lãnh đạo tối cao trong Hội Đồng Giáo Phẩm Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.
In 2012, World Vietnamese Buddhist Order held the 10th General Congress at Viên Quang Monastery. In this Congress, the Most Venerable Master Thích Chơn Thành was selected as the Deputy President Elder. From 2015 onwards, Liên Hoa Temple where he has been the Abbot becomes an Office of the Leadership Council of the World Vietnamese Buddhist Order. He composed many bullettins for the Congress. At present, he is one of the Supreme Leaders in the Dignitaries Council of Vietnamese Buddhism in the United States of America.

V. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT SÓNG HẰNG TUẦN
-         Chủ trương và thực hiện chương trình phát thanh Tiếng Từ Bi, trên tần số 1480 AM từ 8:30 đến 9:00 PM mỗi tối thứ Hai hằng tuần và tần số 1190 AM từ 8:30 đến 9:00 PM mỗi tối thứ Tư hằng tuần. Từ tháng 4 năm 2000 lại thêm chương trình, “The Voice of Compassion” dùng 2 ngôn ngữ Anh Việt để giới trẻ có thể đón nghe chương trình Phật pháp vào tối thứ Bảy từ 8:00 PM đến 8:30 PM trên tần số 1190 AM điều khiển bởi Hòa Thượng Thích Chơn Thành, TT. Thích Nhật Minh cùng các đạo hữu Kusala, Bodhi, Trí Tuệ, Quảng Tâm, Đào Hữu Hòa, Giáo sư Monez Blades, Adam Austin, Shawn Marie Turi, John Turi, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Quảng, Julie, Sandi Mutroom …

V. WEEKLY BROADCAST PROGRAM
Advocating and implementing the compassion broadcast radio, on the frequency 1480 AM from 8:30 to 9:00 PM every Monday evening and on the frequency 1190 AM from 8:30 to 9:00 PM every Wednesday evening. From April 2000, another program was added, “the Voice of Compassion” used two English and Vietnamese languages so that young people could hear the Dharma program on Saturday from 8:00 PM to 8:30 PM on the frequency 1190 AM controlled by the Most Venerable Master Thích Chơn Thành, Senior Venerable Monk Thích Nhật Minh, along with Mr. Kusala, Bodhi, Mr. Trí Tuệ, Quảng Tâm, Đào Hữu Hòa, Professor Monez Blades, Adam Austin, Shawn Marie Turi, John Turi, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Quảng, Julie, Mr. Sandi Mutroom, etc.

VI. THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH VUI TRONG ÁNH ĐẠO
-         Trung Tâm Từ Thiện Xã Hội Phật Giáo Miền Nam California đã tổ chức nhiều đợt quyên góp tài chánh và vật liệu để cứu trợ nạn nhân các trận thiên tai tại Việt Nam, Đông Nam Á, và Hoa Kỳ. Ở Trung Tâm Từ Thiện này, Hòa thượng Thích Chơn Thành giữ vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị. Hòa thượng Thích Quảng Thanh làm giám đốc Hội Đồng điều hành. Ni Sư Diệu Từ làm phó nội vụ. Cao Tấn Nhựt làm phó ngoại vụ. Đào Hữu Hạnh làm Tổng Thư Ký. Lúc đó, Thượng tọa Thích Viên Lý, Thượng tọa Thích Minh Mẫn, Quảng Trí Châu, Luật sư Nguyễn Trọng Nha, và Huynh trưởng Tâm Hòa – Lê Quang Dật v.v.. là các cộng tác viên của Trung Tâm này.

VI. PERFORM PROGRAMS HAPPILY IN THE DHARMA LIGHT
-        Charity Center of Buddhist Society in Southern California organized many series of financial donations and materials to relieve victims of natural disasters in Vietnam, Southeast Asia, America. In this Charity Center, the Most Venerable Master Thích Chơn Thành held the role of Chairman of the administrative Council. The Most Venerable Master Thích Quảng Thanh made the Director of Executive Council. Senior Venerable Nun Diệu Từ acted as deputy internal affairs. Mr. Cao Tấn Nhựt acted as deputy foreign affairs. Mr. Đào Hữu Hạnh acted as General Secretary. At that time, Senior Venerable Thích Viên Lý, Senior Venerable Thích Minh Mẫn, Quảng Trí Châu, Attorney Nguyễn Trọng Nho, and Elder Brother Tâm Hòa – Lê Quang Dật, etc., were the collaborators of this Center.

Bên cạnh các công tác Phật sự trên, Hòa thượng Thích Chơn Thành còn làm chủ nhiệm Tạp Chí Trúc Lâm, tại thành Phố Santa Ana, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Tạp Chí này đã xuất bản nhiều số khác nhau. Nội dung của nó rất đa dạng và phong phú.
Những tác phẩm của Hòa thượng đã được xuất bản gồm có:
Thánh Kinh Thiện Thệ - Bình An Thiên Lộ
Thánh Kinh Thiện Thế - Bình An Thiên Lộ
Thánh Kinh Thiện Đức – Bình An Thiên Lộ
Thánh Kinh Chân Trời Rộng – Bình An Thiên Lộ

Tác phẩm đang thực hiện:
Mười Bàn Chân – Thi tập, Bình An Thiên Lộ.

Besides the above Buddhist tasks, the Most Venerable Master Thích Chơn Thành also served as the chairman of Truc Lam Magazine in Santa Ana, California, the United States of America. This magazine has published many different numbers. Its contents are diversified and rich.
His published works consist of:
Sacred Goodness Book - Peace of heavenly Path
Sacred good World Book - Peace heavenly Path
Sacred good Virtue Book - Peace of heavenly Path
Sacred Wide Horizon Book - Peace of Heavenly Path
His work in progress:
          Ten Feet – Peotry Collection, Peace of heavenly Path

VII. NHỮNG PHẬT SỰ KHÁC
Năm 2003, Hòa thượng thực hiện những chuyến hành hương, chiêm bái Phật Tích Ấn Độ, thăm viếng, và hoằng pháp tại 16 quốc gia khác nhau ở Châu Âu và các nước Châu Á.
VII. OTHER BUDDHIST TASKS
          In 2003, he who implemented pilgrimages of the Buddhist holy lands in India, visited, and preached the Dharma in 16 different countries in Europe and Asian countries.
m6.jpg
Hòa thượng Thích Chơn Thành và những người hâm mộ
The Most Venerable Master Thích Chơn Thành and his Fans

Đặc biệt, trong nhửng thời Pháp thoại, thầy thường nhắc đến những nhà hoằng Pháp ở đất nước sở tại phải thường xuyên linh động và uyển chuyển để khéo vận dụng văn hóa Phật giáo Việt Nam dễ dàng hòa nhập vào văn hóa bản địa.
Especially, in his Dharma talks, he often mentioned Dharma propagators in the host country to be frequently flexible to skillfully manipulate Vietnamese Buddhist cultures easily to integrate into the local culture.




AD1.jpg
          Hòa thượng Thích Chơn Thành hành hương Phật tích tại đại tháp, Bồ Đề Đạo Tràng vào mùa Xuân, năm 2003.
          The Most Venerable Master Thích Chơn Thành pilgrimed the Buddhist holy lands at the great stupa in Bodhgaya in Spring, 2003.
AD2.jpg
Cùng với Tăng Đoàn, Hòa thượng đi hành hương Phật tích năm 2003.
Along with the Sangha, the Most Venerable Thích Chơn Thành pilgrimed the Buddhist holy lands in 2003

Ngày 7 tháng 6 năm 1997, lần đầu tiên, cùng với đồng hương Phật tử Việt Nam, Hòa Thượng Thích Chơn Thành đã tổ chức thành công lễ cung nghinh đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 thuyết Pháp cho Cộng Đồng Phật giáo tại Califoria, Hoa Kỳ.
On June 7 1997, for the first time, together with fellow country Vietnamese Buddhist people, the Most Venerable Master Thích Chơn Thành successfully organized the Ceremony of welcoming the 14th Dalai Lama preaching the Dharma to the Buddhist Community in California, the United States of America. 


m4.jpg
m5.jpg

Mừng thiên niên kỷ mới, thay mặt Giáo Hội Vạn Hạnh, Hòa thượng Thích Chơn Thành bảo trợ tịnh thần cho Đại Lễ Quán Đảnh đo đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 tổ chức tại đại hí viện Terrance thuộc Long Beach Convention Center Ngày 24 tháng 4 năm 2000. Cộng Đồng Phật Giáo Nam California bảo trợ trên 40 nghìn Mỹ kim cho đại Lễ này.
Celebrating the new millennium, on behalf of Vạn Hạnh Church, the Most Venerable Master Thích Chơn Thành patronized spirits for the Great Ceremony of Anointment held by the 14th Daila Lama at the great theater Terrance of Long Beach Convention Center on April 24 2000. Buddhist Community of the South of California sponsored over US $ 40,000 for this great Ceremony.

m1.jpg

Hòa thượng Thích Chơn Thành đã tổ chức cho 12,000 Phật tử đủ mọi quốc tịch tham dự buổi thuyết giảng về giáo lý Tứ Diệu Đế của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Hội Trường Long Beach Convention & Trung Tâm Entertainment vào ngày 25 tháng 9 năm 2009.
The Most Veeenerable Master Thích Chơn Thành organized 12,000 Buddhists of all nationalities to attend the Dalai Lama’s discourse on the Four Noble Truths at Long Beach Convention Hall & Entertainment Center on September 25, 2009.  
dllm2.png
dllm1.png

Năm 2011, Hòa thượng Thích Chơn Thành được bầu làm Trưởng Ban Tổ Chức Lễ Hội Phật Ðản Liên Châu, PL lần thứ 2555 được tổ chức tại Trung Tâm Anaheim Convention - Hội Trường Arena, 800 W. Katella Ave., Anaheim, CA 92802.
In 2011, the Most Venerable Master Thích Chơn Thành was an elected Head of organizing Festival of intercontinental Vesak Day for Buddhist Era 2555th organized in Anaheim Convention Center – Arena Hall, 800 W. Katella Ave., Anaheim, CA 92802.

phatdan-2011-30.jpg
phatdan-2011-39.jpg

phatdan-2011-42.jpg

VIII.        CÔNG TÁC GÓP PHẦN XÂY DỰNG
Mặc khác, dù bận nhiều Phật sự, dù tuổi cao sức yếu, nhưng Hòa thượng Thích Chơn Thành luôn nỗ lực góp phần xây dựng và trùng tu ngôi Chùa Liên Hoa ở Sông Cầu, Phú Yên, Chùa Trà Cú ở Phan Thiết, Tu Viện Quảng Đức ở Thủ Đức, ngôi Chùa Khánh Anh ở Pháp Quốc, ngôi Chùa Phật Đà, Chùa Bát Nhã ở Nam California, và ngôi Chùa Hội Phước ở New Mexico. Bên cạnh đó, Hòa thượng còn chứng minh Pháp Hội Địa Tạng được tổ chức hằng năm tại nhà quàn Peek Family, Nam California.
VIII.        WORK TO CONTRIBUTE TO CONSTRUCTION
On the other hand, although busy with many Buddhist tasks, despite the high old age of weak health, the Most Venerable Master Thích Chơn Thành has tried his best to contribute to building and restoring Liên Hoa Temple in Sông Cầu town, Phú Yên province, Trà Cú Temple in Phan Thiết City, Quảng Đức Monastery in Thủ Đức District, Khánh Anh Temple in France, Phật Đà Temple, Bát Nhã Temple in South California, and Hội Phước Temple in New Mexico. Besides that, he also proved the Kṣitigarbha Dharma Assembly was held annually at the Peek Family Funeral Home in the South of California.

-         phap-hoi-dia-tang-2016-dsc-0063.jpg

-         phap-hoi-dia-tang-dsc-1136.jpg




IX.    TRI ƠN XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI TỔNG THỐNG RONALD REAGAN



IX.    GRATITUDE FOR BUILDING THE RONALD REAGAN PRESIDENTIAL STATUE


Từ năm 1969 tới năm 1985, thầy Thích Chơn Thành đi du học tại Nhật Bản. Năm 1985, chấp nhận lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ thứ 40, Ronald Reagan, thầy đi định cư tại Nam California, Hoa Kỳ. Để tri ơn nước Mỹ nói chung, và đặc biệt là vị Tổng thống Ronald Reagan nói riêng, thầy xem vị Tổng thống này là “người Cha già thân yêu” bằng cách đóng góp 36,000 Mỹ kim để xây tượng đài Tổng thống bằng đồng cao 6 feet, khoảng 1 mét 83 tại Công viên Mile Square ở Fountain Valley, Quận Cam, California, Hoa Kỳ.    
From 1969 to 1985, Venerable Master Thích Chơn Thành went to study abroad in Japan.
In 1985, accepting the invitation of the 40th US. President, Ronald Reagan, Venerable Chơn Thành went to settle in the South of California, the United States of America. To be grateful to America in general, and especially President Reagan in particular, Venerable Chơn Thành considered the President as “his dear old Dad” by donating US. $36,000 to build a six-foot-tall bronze Presidential statue at Mile Square in Fountain Valley, Orange County, California, America.

X.    NHẬN LÃNH CÁC HUY CHƯƠNG CAO QUÝ
Năm 1975, Liên Hợp Quốc gởi tặng huy chương hòa bình cao quý cho thầy Thích Chơn Thành.
X.      RECEIVING THE NOBLE MEDALS
In 1975, the United Nations awarded and sent the noble peace medal to Venerable Master Thích Chơn Thành.
 
Năm 2013, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 41, George H. W. Bush gởi tặng cho Hòa thượng Thích Chơn Thành huy chương cao quý.
In 2013, the 41st US. President, George H. W. Bush awarded and sent the noble medal to the Most Venerable Master Thích Chơn Thành.

          Vào nhiệm kỳ của Tổng thống Hoa Kỳ thứ 43, George W. Bush, gởi tặng cho Hòa thượng huy chương cao quý.
          In the term of the 43rd US. President, George W. Bush awarded and sent the noble medal to the Most Venerable Master Thích Chơn Thành.

Năm 2017, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 45, Donald Trump gởi tặng cho Hòa thượng Thích Chơn Thành huy chương cao quý.
In 2017, the 45th US. President, Donald Trump awarded and sent the noble medal to the Most Venerable Master Thích Chơn Thành.
 


Như vậy, qua cuộc đời tu tập và hành đạo của Hòa thượng Thích Chơn Thành, chúng ta có thể học những điều hay ở nơi người như sau:
Hòa thượng sống cuộc sống bình dị, đơn giản, vui vẻ, có thiện cảm với mọi người. Noi gương vị thầy đức hạnh và tài đức của mình, Hòa thượng luôn cố gắng tu và học Phật pháp tới nơi tới chốn. Trong lúc tu học ở xứ người, mặc dù gặp nhiều nghịch cảnh khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần, nhưng Hòa thượng không bao giờ bỏ học và bỏ tu, và quyết nuôi dưỡng Bồ-đề tâm để làm lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay trong cuộc sống hiện tại. Dù trải qua nhiều chặng đường tu học ở nhiều chỗ khác nhau, nhưng Hòa thượng luôn giữ vững niềm tin Tam Bảo, và tin sâu vào nhân quả.
Thus, through his monastic life and Dharma practice of the Most Venerable Master Thích Chơn Thành, we can learn the good things from him as follows:
He lives a simple, happy, sympathetic, and good life with everyone. Imitating his virtuous and talented Master, he always tries his best to cultivate and learn the Buddhadharma. While studying in a foreign country, despite encountering many difficult adversities both physically and mentally, he never dropped out of school and quit cultivation, and resolve to nurture Bodhi mind to benefit oneself and others right in the present life. Although overcoming many ways of cultivation and learning in different places, he always upholds firm confidence in the Three Jewels, and believes deeply in the cause and effect.
Mặc dù Trưởng Lão Hòa thượng Thích Quảng Liên là người tài đức, nhưng Hòa thượng Chơn Thành không ỷ lại nơi Sư phụ của mình mà không học và không tu. Mặc dù bận nhiều công việc học tập, nhưng Pháp hành và Pháp học Hòa thượng luôn áp dụng và thực hành vào trong đời sống hằng ngày. Ngài thường xuyên ý thức rằng noi gương những bậc thầy tài đức để làm gương soi sáng cho tự thân và cho tha nhân bằng cách vận động quyên góp tịnh tài và tịnh vật để làm từ thiện cho những gia đình nghèo khó. Trong quá trình tu học ở trong nước và nước ngoài, Hòa thượng luôn chọn thầy lành và bạn tốt để tu học, trao đổi, làm việc, và giao lưu. Hướng tới tinh thần hòa hợp, hòa bình, tự do, dân quyền, và dân chủ, cùng với các bạn đồng tu, Hòa thượng luôn nuôi dưỡng, vun trồng, và giữ vững nhiều vài trò tâm linh, an vui, và hạnh phúc cho nhiều người.
Although the Most Venerable Thero Thích Quảng Liên is the virtuous and talented person, the Most Venerable Master Chơn Thành does not rely on his Master in order not to study and not to cultivate. Although busy with his studies, Master Chơn Thành always practices and applies Dharma learning and Dharma practice into his daily life. He is frequently aware that imitating the virtuous and talented Masters is to be a shining example for himself and others by campaigning to raise pure money and pure materials to make charitable donations for needy families. In the process of cultivating and studying at home and abroad, he always chooses good teachers and good friends to study, exchange, work, and communicate. Towards spirits of harmony, peace, freedom, civil rights, and democracy, along with fellow practitioners, he always nurtures, cultivates, and strongly maintains many spiritual, peaceful, happy roles for many people.     
          Thật vậy, trong quá trình tu học và làm đạo ở trong nước và ở nước ngoài, Hòa thượng có thiện cảm với nhiều người và được nhiều người quý mến. Nơi nào Hòa thượng sống, nơi đó người phát tâm thiết lập Đạo Tràng và xây dựng Phật thân, Pháp thân, và Tăng thân tốt đẹp. Về mặt ngoại giao, Hòa thượng đã từng làm việc và tiếp đón những vị nguyên thủ quốc gia, trong đó có Vị Tổng thống Ronald Reagan, thứ 40 của Hoa Kỳ và đức Dalai Lama.
          Về khía cạnh văn hóa tâm linh, Hòa thượng luôn động viên các nhà hoằng pháp khéo léo vận dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày để thích hợp với văn hóa địa phương. Về khía cạnh tri ơn và nhớ ơn, Hòa thượng luôn tri ơn đất nước Hoa Kỳ,  đặc biệt là tri ơn vị Tổng thống Ronald Reagan, người đã gởi thư thỉnh mời Hòa thượng sang Mỹ định cư năm 1984, bằng cách quyên tiền làm một tượng bằng đồng cao sáu feet cho vị Tổng thống này. Đối với các bạn đồng tu, đặc biệt là Cố Trưởng Lão Hòa thượng Thích Quảng Thanh, Hòa thượng luôn xem Hòa thượng Quảng Thanh là Pháp hữu thấm tình đạo vị. Đối với quý Sư Thầy và Sư Cô trẻ, Hòa thượng luôn gần gũi động viên và trao truyền những kinh nghiệm sống cho họ. Chúng con chân thành tri ơn Hòa thượng Thích Chơn Thành, người thầy thân thiện, an vui, và khả kính.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Indeed, in the process of studying and propagating the Dharma at home and abroad, he has good feelings with many people and been much loved by many people. Wherever he lives, there he develops his mind to establish Dharma Center and build the Buddha body, Dharma body, and Sangha body well. In aspects of diplomacy, he used to work and welcome heads of states, including the 40th US. President Ronald Reagan and His holiness Dalai Lama.
In aspects of spiritual culture, he always encourages the Dharma propagators to skillfully manipulate the Buddhadharma into their daily lives to suit the local culture. In aspects of gratefulness, he always expresses his deep gratitude to the United States of America, especially to the President Ronald Reagan, who sent the invitation letter to him to come to America to settle in 1984, by raising money to make a six-foot-tall bronze statue for this President. For fellow practitioners, especially the Late Venerable Thero Thích Quảng Thanh, he always considers the Venerable Quảng Thanh as his Dharma friend with deep affection and flavor. For young monastics, he is always close to encourage and communicate his life experience to them. We would like to sincerely thank the Most Venerable Thích Chơn Thành, the friendly, peaceful, joyful, and respectful Master.
NAMO THE ORIGINAL MASTER SHAKYAMUNI BUDDHAYA.


hinhPhat_banhxePhap

titlesvideosKyHoi_fromFBook



08/26/2019: "Video Sinh Hoạt Mới tại Chùa Pháp Nhãn Nam Ky Hoi (New Activity Videos of New Year 2019 at Phap Nhan Temple)













FaceBookVideos




How to Share With Just Friends How to share with just friends.
Posted by Facebook on Friday, December 5, 2014
https://www.facebook.com/thichtrungsy.dharmacakkhu/videos/2068622586558341/ https://www.facebook.com/100004392589441/videos/1171591599663915/

PhapNhanTemple's Activities



08/25/2019: "Phim Lễ Vu Lan tại Chùa Pháp Nhãn ngày 25 tháng 08 năm 2019. Video of Parents' Day at Phap Nhan Temple on Sunday August, 25, 2019.
08/25/2019: "Hình ảnh Lễ Vu Lan tại Chùa Pháp Nhãn ngày 25 tháng 08 năm 2019. Photos of Parents' Day at Phap Nhan Temple on Sunday August, 25, 2019.
06/03/2019: "Hình ảnh Lễ Phật Đản tại Chùa Pháp Nhãn ngày 2 tháng 06 năm 2019. Photos of Vesak at Phap Nhan Temple on Sunday June, 2, 2019.
06/12/2019: "Hình ảnh Lễ Tạ Ơn tại Chùa Hạnh Nguyện ngày 24 tháng 11 năm 2018. Photos of Thanksgiving at Hanh Nguyen Temple on Sunday Nov, 25, 2018.
11/22/2018: "Videos Hoằng Pháp của Thich Trừng Sỹ Videos of Ven. Thich Trừng Sỹ's Propagation.
05/23/2018: "Hình ảnh Lễ Phật Đản tại Chùa Pháp Nhãn ngày 20 tháng 5 năm 2018. Photos of Vesak at Pháp Nhãn Temple on Sunday May, 20, 2018.
04/4/2018: "Video sinh hoạt Mùa Xuân Vía Quan Âm tại Chùa Pháp Nhãn. Video Dharma Talks of Memorial Day Quan Âm at Pháp Nhãn Temple.
03/16/2018: "Những Video sinh hoạt Mùa Xuân Mậu Tuất tại Chùa Pháp Nhãn. Video Dharma Talks of Lunar Year of the Dog at Pháp Nhãn Temple.
03/15/2017: "QUÝ SƯ CÔ PHÁP HUỆ, PHÁP TỪ, VIÊN CÁT và Phái Đoàn có duyên lành viếng thăm Chùa Pháp Nhãn, Thái, và Tích Lan ở Austin nhân dịp Xuân 2018. A groups of Nuns and lay Buddhists goes on a pilgrimage and visit to Pháp Nhãn Temple, Thai Temple, and Sri Lanka Temple in Austin on occasion of Spring of the Happy Lunar New Year 2018 Spring of Suchness (Tathatā)
03/10/2017: "PHẬT TỬ HÀNH HƯƠNG THĂM CHÙA PHÁP NHÃN, THÁI, VÀ TÍCH LAN TẠI AUSTIN XUÂN MẬU TUẤT 2018 Everyone goes on a pilgrimage and visit to Pháp Nhãn Temple, Thai Temple, and Sri Lanka Temple in Austin on occasion of Spring of the Happy Lunar New Year 2018 Spring of Suchness (Tathatā)
11/27/2017: "Hình Ảnh Khóa Tu Tạ Ơn tại Chùa Pháp Thứ Bảy 25-11-2017 " Photos of Winter Thanksgivings Retreat at Phap Nhãn Temple in Austin on Saturday Nov. 25, 2017.
8/15/2017: "Thư cám ơn và Hình Ảnh Gây Qũy xây dựng Chùa Pháp Nhãn tại nhà hàng Kim Sơn Chủ Nhật 13-08-2017 Video Dharma Talk "Letter of thanks and photos at Kim Sơn Restaurant in Houston on Sunday, August 13, 2017
7/12/2017: "Video Thầy Trừng Sỹ Giảng "Ý nghiã Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm" tại Phật Ân Đạo Tràng July-09-2017 Video Dharma Talk "The Meaning of Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm" at Phật Ân Temple July-09-2017
6/12/2017: "Video Thầy Trừng Sỹ Giảng tại Từ Bi Đạo Tràng Temple June-03-2017 Video Dharma Talk at Từ Bi Đạo Tràng Temple June-03-2017
6/2/2017: "Video Lễ Phật Đản at Pháp Mhãn Temple May-28-2017 Video of Vesak Ceremony at Pháp Mhãn Temple on Sunday May 28 /2017
6/2/2017: "Hình ảnh Lễ Vesak tại Chùa Pháp Nhãn lần thứ 2641, năm 2017. The Vesak Day photos at Phap Nhan Temple on May 28, 2017.
5/17/2017: "Hình ảnh Lễ Hằng Thuận at Pháp Mhãn Temple May-4-2017 Photos of Wedding at Pháp Mhãn Temple on Sunday May 4 /2017
javascript:void(0)
3/27/2017: "Hình ảnh Khóa Tu at Pháp Mhãn Temple 26-3-2017 Photos of Spring Retreat at Pháp Mhãn Temple on Sunday Mar. 26 /2017
2/28/2017:Video "Lễ Giao Thừa Xuân Đinh Dậu 01/27/2017 at Pháp Mhãn Temple Video of "New Lunar Year Eve 01/27/2017 at Pháp Mhãn Temple
2/21/2017: "Hình ảnh hành Hương at Pháp Mhãn Temple Photos of "New Year at Pháp Mhãn Temple on Sunday Feb. 12 /2017
12/12/2016:Video "Khóa Tu Tạ Ơn 27/11/2016 at Pháp Mhãn Temple Video of "Thanksgiving Retreat at Pháp Mhãn Temple on Sunday Nov. 27, 2016
11/14/2016:Lễ Hằng Thuận 12-11-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Photos of The Wedding Ceremony at Pháp Nhãn Temple on November 12, 2016
10/27/2016:Video "Tỳ-xá-khư, nữ thí chủ hộ Pháp đắc lực-Thầy Trừng Sỹ giảng tại chùa Hải Đức - Houston - TX. Video of "Visakha" by Ven. Thích Trừng Sỹ in October, 2016 at Hải Đức Temple - Houston - TX.
09/27/2016:Video "Buổi Sáng An Lành-Thích Trừng Sỹ tại Chùa Pháp Nhãn Video of "Peaceful Morning" by Ven. Thích Trừng Sỹ on Sept. 17, 2016 at Pháp Nhãn Temple.
09/10/2016:Video Lễ Quy Y 27-8-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Video of Ceremony of Taking Refuge in Three Jewels on August 27, 2016 at Pháp Nhãn Temple.
08/26/2016:Video Lễ Vu Lan 14-8-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Video of Vu Lan Ceremony August 14, 2016 at Pháp Nhãn Temple.
08/15/2016:Hình Ảnh Lễ Vu Lan 21-8-2016 tại Chùa Hội Phước - New Mexico Photos of Vu Lan Ceremony August 21, 2016 at Hoi Phuoc Temple - New Mexico
08/15/2016:Hình Ảnh Lễ Vu Lan 14-8-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Photos of Vu Lan Ceremony August 14, 2016 at Pháp Nhãn Temple
07/3/2016:Thiền Tập tại Chùa Pháp Nhãn Meditation practice at Pháp Nhãn Temple
06/31/2016:Khóa Tu An Cư Kiết Hạ cho chư vị xuất Sĩ và cư Sĩ 10 ngày tại Niệm Phật Đường ở Fremont, CA 2016 thật là hùng tráng, hạnh phúc, an vui, ý nghĩa, và thú vị. A 10-Day- Vassa - Summer Retreat for the Sangha at Niem Phat Duong Dharma Center in Fremont, CA in the year 2016 is so strongly noble, joyful, happy, meaningful, and interesting.
06/30/2016:Chư vị xuất Sĩ có duyên lành thăm viếng tôn tượng Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và các tôn tượng khác ở Oakland, CA tháng 6 2016. The Sangha has a good opportunity to visit Zen Master Thích Nhất Hạnh's respectful statue and others' different statues in Oakland, CA in June, 2016.
06/28/2016:Rải Tâm Thương Yêu - Spreading compassion heart in June 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ Chư vị xuất Sĩ và cư Sĩ có duyên lành viếng thăm và rải tâm từ tới những người thân người thương tại Viện Dưỡng Lão ở San Jose, CA tháng 6 năm 2016.
06/11/2016: video Pha1p Thoa5i "Chân Hạnh Phúc" tại Chùa Pháp Nhãn-TX 6/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - Video of Dharma Talk "The Happiness" in June 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday June 11 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
06/02/2016: video Lễ Phật Đản 2016 tại Chùa Pháp Nhãn-TX 29/5/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - Video of The Vesak Day Ceremony 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday May. 29 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
05/30/2016: Lễ Quy Y 2016 tại Chùa Pháp Nhãn-TX 29/5/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - The Ceremony of Taking Refuge 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday May. 29 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
05/30/2016: Lễ Phật Đản 2016 tại Chùa Pháp Nhãn-TX 29/5/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - The Vesak Day Ceremony 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday May. 29 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
04/3/2016: Video Khóa Mùa Xuân (Lễ Vía Đức Mẹ HIền Quan Thế Âm) tại Chùa Pháp Nhãn-TX 27/3/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of Spring Retreat (Compassion Mother Quan Thế Âm's Ceremorial Day) at Pháp Nhãn Temple on Sunday Mar. 27 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
03/4/2016: Video Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn-TX ngày 28 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of Lay Buddhists from Houston visiting at Pháp Nhãn Temple on Sunday Feb. 28, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
03/1/2016: Video Hành Hương tại các Chùa Austin-TX ngày 28 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of Lay Buddhists from Houston visiting at Temples in Austin on Sunday Feb. 28, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/29/2016: Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn ngày 28 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Lay Buddhists from Houston visiting at Phap Nhan Temple on Sunday Feb. 21, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/24/2016: Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn ngày 21 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Lay Buddhists from Houston visiting at Phap Nhan Temple on Sunday Feb. 21, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/21/2016: Cầu An - Xuân tại Chùa Pháp Nhãn Hôm nay ngày Rằm tháng Giêng Âm Lịch năm Bính Thân 2016, quý Phật tử có đủ duyên lành về Chùa Pháp Nhãn và Chùa Thái để lạy Phật, Pháp, và Tăng. (Today, the Full Moon of Lunar January of the Monkey Year 2016, everyone has enough good opportunity to visit and come to Phap Nhan Temple and Thai Temple in order to pay homage to the Buddha, the Dharma, and the Sangha.)
02/17/2016: Thầy Trừng Sỹ giảng về Cầu An - Xuân tại Chùa Pháp Nhãn ngày 14 tháng 2 năm 2016 (Dharma Talk about Praying for Peacefulness - Spring 2016 at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/16/2016: Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn ngày 10 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Lay Buddhists from Houston visiting at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/12/2016: Hình Ảnh Tết – XUÂN DI LẶC – 2016 Tết tại Chùa Pháp Nhãn By Ven. Thích Trừng Sỹ (Photos of Maitreya Spring 2016 at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/10/2016: Lễ Quy Y và Giao Thừa đón năm Bính Thân tại Chùa Pháp Nhãn ngày 8 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Photos of New Year's Eve at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/09/2016: Lễ Quy Y và Giao Thừa đón năm Bính Thân tại Chùa Pháp Nhãn ngày 8 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of New Year's Eve at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
1/19/2016: Thầy Trừng Sỹ giảng Nương Tựa An Vui (Video preached by Ven. Thích Trừng Sỹ)
1/18/2016: Thầy Trừng Sỹ giảng Ý Nghĩa Niệm Phật (Video of Dharma talk "The Meanings of Reciting Buddha's Name" by Ven. Thích Trừng Sỹ)
1/17/2016: Khóa Tu Bồ Đề Diệp được tổ chức tại Ngôi Nhà Nguyện và Chùa Tây Tạng ở thành phố Seattle, tiểu bang Wanshington. Trong Khóa Tu này, chư vị xuất Sĩ và cư Sĩ cùng tham gia thiền tập, tụng Kinh, Pháp thoại, và pháp đàm rất là an lạc. (A Retreat of Bodhi Leaf was held at a Chapel House and at Tibetan Temple in Seattle, Washington State. In the Retreat, the Monastics and lay people attended meditation practice, Sutra chanting, dharma talk, and dharma discussion so peacefully.)

bai hat Xuan Hạnh Phúc







Chanting at Phap Nhan




Song Here and Now movie



chuongtrinhthưVN

chuongtrinhthưVN

chuongtrinhSaturday

chuongtrinhSaturday

chuongtrinhhangtuanVN

chuongtrinhhangtuanVN

chuongtrinhhangtuan_ENG

chuongtrinhhangtuan_ENG

Thầy Trừng Sỹ Giảng Chùa Bảo Quang

PhatDanPosters

Donation Button

HINH AVARTA.PHOTO



New Year 2014

Lời Chúc ThanksGiving

New from Pháp Nhãn

Bấm vào xem thêm các bài viết(Please click thumnails to Read More Thich Trung Sy's Writings)

slideshow

Created with picasa slideshow.
Created with picasa slideshow.

Popular Posts

VIDEOS REVIEWS

RECENT WRITINGS

hoatraituhoc slideshow

Created with picasa slideshow.

My Blog List

Happy Vasak

NHÌN PHẬT ĐẢN QUA CON MẮT THIỀN QUÁN- BY VEN. THÍCH TRỪNG SỸ