Phap Nhan Temple

hinhPhat_banhxePhap

Lich su duc Phat Thich Ca Mau Ni




























       


Lịch sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni tóm tắt



Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhārtha Gautama), một con người lịch sử, một thái tử thuộc dòng họ Thích Ca (Sakya), con trai của vua Tịnh Phạn (Suddhodana), sống tại thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) cách đây gần ba nghìn năm. Tất Đạt Đa sinh vào ngày trăng tròn tháng Vesak, tương ứng với tháng năm thường lịch, năm 624 trước công nguyên dưới gốc cây Vô Ưu (Ashoka tree) tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini), nước Nê Pan (Nepal) ngày nay. Siddhartha có nghĩa là con người toại nguyện có đầy đủ phước đức và trí tuệ. 


Brief history of Lord Sakyamuni Buddha

(Xin Bấm vào để xem slideshow)
(Please click and watch this slideshow)



Siddhārtha Gautama, who was a historical man, a prince of Sakya clan, son of King Suddhodana, lived in Kapilavastu castle nearly 3 thousand years ago. Siddhārtha was born on the full moon day of Vesak month, corresponding to the common calendar May, in the year of 624 BCE under the root of Ashoka tree in the Lumbini park, Nepal today. Siddhārtha means the fully-contented man with sufficient merit and wisdom.  


Sau khi thái tử sinh ra được 7 ngày, mẹ ngài, tức thánh Mẫu Ma-da (Māyādevī) mất. Người mẹ kế của ngài là Ma-ha Ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di (Mahāpajāpatī Gotamī) chăm lo. Khi tới tuổi 16, thái tử lập gia đình với công chúa Da Du Đà La (Yasodharā) và có một người con trai duy nhất tên là La Hầu La (Rāhula).


Seven days after the prince was born, his mother, Queen Māyādevī, died. His stepmother, who was Mahāpajāpatī Gotamī looked after him. When he reached at the age of 16, he married princess Yasodharā and had an only son named Rāhula   



Sống trong cảnh nhung lụa, giàu sang và sung sướng, nhưng thái tử vẫn cảm thấy không tự do và thoái mái, cùng với người thân cận của mình tên là Sa Nặc (Channa), thực hiện một chuyến đi ra khỏi 4 cửa thành hoàng cung để thăm các cảnh thật bên ngoài. Ra khỏi cửa thành, đi về hướng Đông, thái tử và Sa Nặc gặp người già; đi về hướng Tây, hai người gặp người bệnh; đi về hướng Nam, gặp người chết; và đi về hướng Bắc, gặp vị Khất sĩ. Một trong bốn cảnh thật mà thái tử chứng kiến, cảnh thật thứ tư không những là đề tài thiền quán cho thái tử, mà còn tạo nguồn cảm hứng cho thái tử sau này trở thành vị ẩn sĩ không nhà, sống không gia đình và không bị ràng buộc bởi gia đình và con cái.

Living in the lap of luxury, wealth and happiness, but the prince, who still felt unfree and uncomfortable, along with his intimate named Channa, made a trip out of the four gates of the royal palace to visit the real world outside. Getting out of the gate, going to the East, the prince and Channa met an old person; going to the West, they met a sick person, going to the South, they saw a dead person; and going to the North, they met a mendicant. One of the four real scenes the prince witnessed, the fourth scene was not only a comtemplative subject for him, but it also created the inspiration for him later on to become a homeless monastic, living without family and not being bound by family and children.



Xuất gia năm 29 tuổi, học đạo với hai vị đạo sĩ Ālāra KalāmaUddaka Rāmaputta, trải qua 6 năm tu khổ hạnh với 5 anh em của ông Kiều Trần Như (Kondañña), nhà tu Tất Đạt Đa xét thấy rằng việc tu khổ hạnh và cực đoan của họ đã làm chướng ngại cho việc chứng đạo. Người quyết định chọn cho mình lối tu không tham đắm dục lạc và không khổ hạnh ép xác, tức là hướng thực hành Trung Đạo (majjhimāpaipadā) với con đường Thánh có tám làn xe chạy: Chánh Kiến (Sammā Diṭṭhi), Chánh Tư Duy (Sammā Sakappa), Chánh Ngữ (Sammā Vācā), Chánh Nghiệp (Sammā Kammanta), Chánh Mạng (Sammā Ājīva), Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma), Chánh Niệm (Sammā Sati),Chánh Định (Sammā Samādhi).[1]   


Leaving home for religious life at the age of 29, learning religion from two ascetics, Ālāra Kalāma and Uddaka Rāmaputta, spending six years practicing asceticism with his five brothers of elder Kondañña, hermit Siddhārtha saw that their religious attainments were compromised by their extreme and ascetic practices. He decided to choose him the way of cultivation without self-indulgence and self-mortification, namely the direction of taking the Middle Way – the noble eightfold Path with the eight-lane freeway: Right View (Sammā Diṭṭhi), Right Thought (Sammā Sakappa), Right Speech (Sammā Vācā), Right Action (Sammā Kammanta), Right Livelihood (Sammā Ājīva), Right Effort (Sammā Vāyāma), Right Mindfulness (Sammā Sati), and Right Concentration (Sammā Samādhi).[2]



Sau khi dùng bát cháo sữa do nàng Su Dà Ta (Sujata) cúng dường, nhận bó cỏ Kiết tường (Kusa) của người nông phu, đến Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya), Bồ tát Tất Đạt Đa kiên quyết ngồi thiền định dưới cội Bồ đề 49 ngày đêm cho tới khi thành chánh quả. Ngài thực tập thiền định từ thấp tới cao, quán niệm hơi thở ra vào đều đặn (Anapana Sati), an trú Sơ Thiền (Jhāna), Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, Không Vô Biên Xứ Định (Akasanantya Yatana), Thức Vô Biên Xứ Định (Vijnanantya Yatana), Vô Sở Hữu Xứ Định (Akincanna Yatana), Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định (N'evasanna Nasanna Yatana), Diệt Thọ Tưởng Định (Nirodha Samapatti).[3]


After having eaten a milky porridge bowl given him by a young lady named Sujata, received a bunch of auspicious grassess (Kusa) from a farmer, arrived at Bodhgaya, Bodhisattva Siddhārtha determined to sit in meditation under the root of a Bodhi tree for 49 days and nights, until attaining the fruits of enlightenment. He who practiced meditation from low to high degrees contemplated in-and-out breath regularly, dwelled in the First Meditation (Jhāna), the Second Meditation, the Third Meditation, the Fourth Meditation, Concentration on the abode of infinite space (Akasanantya Yatana), Concentration on the abode of infinite consciousness (Vijnanantya Yatana), Concentration on the abode where nothing exists at all (Akincanna Yatana), Concentration on neither perception nor non-perception (N'evasanna Nasanna Yatana), the Cessation of the Annihilation of Concentration (Nirodha Samapatti).[4]    


Đêm thứ 49, canh đầu, Bồ Tát chứng Túc Mạng Minh (Pubbe nivāsānussati māna), biết rõ nhân quả nhiều đời trước của Ngài; canh giữa, Ngài chứng Thiên Nhãn Minh (Cutūpapāta māna), biết rõ nghiệp báo nhiều đời trước của chúng sanh; canh cuối, khi sao mai vừa mọc, Ngài chứng Lậu Tận Minh (Āsavakkhaya māna), giác ngộ viên mãn (Anuttara samma sambodhi) – phát hiện ra bốn sự thật: Khổ (Dukkha), Khổ tập (Dukkha samudaya ariya sacca), Khổ diệt (Dukkha nirodha ariya sacca), Con đường đưa đến khổ diệt (Dukkha nirodha gāmini  patipadā ariya sacca). Cuối cùng, Bồ tát thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) tại Bồ Đề Đạo Tràng lúc 35 tuổi.


On 49th night, in the first night watch, Bodhisattva who obtained “the Reminiscence of Past Births” (Pubbe nivāsānussati māna) knew the causes and effects of his previous lives clearly; in the middle night watch, he who obtained “Clairvoyant supernormal vision” (Cutūpapāta māna) knew karmic retribution of human beings' previous  lives clearly; in the last night watch, when morning star arose, he who obtained “the Comprehension of the Cessation of Corruptions” (Āsavakkhaya māna) attained perfect enlightenment (Anuttara samma sambodhi), discorved the four noble Truths: Suffering  (Dukkha), the Origin of Suffering (Dukkha samudaya ariya sacca), the Cessation of Suffering (Dukkha nirodha ariya sacca), and the Path leading to the Cessation of Suffering (Dukkha nirodha gāmini  patipadā ariya sacca). Finally, Bodhisattva became the Buddha called Sakyamuni in Bodhigaya at the age of 35.  

Sau khi Bồ Tát thành Phật, Phạm thiên Sahampati thưa thỉnh đức Phật ba lần để đi hoằng pháp và giáo hóa chúng sanh. Cuối cùng, đức Phật đồng ý những lời thỉnh mời của Phạm thiên, và tìm đến hai vị đạo sĩ trước đây để truyền đạo, nhưng cả hai vị đều qua đời. Đi đến vườn Lộc Uyển (Migadava) ở Sarnath, đức Phật nói bài Pháp đầu tiên (Dhamma Cakka Pavattana) cho năm người bạn đồng tu. Cả năm người này đều thấm nhuần diệu pháp và chứng quả A La Hán (Arhanta). Như vậy, Phật, Pháp và Tăng được hình thành tại đây.

After Bodhisattva became the Buddha, Brahma Sahampati requested him three times to preach the Dharma and to instruct human beings. He finally agreed with the latter’s requests, and sought out two previous ascetics to spread the Dharma, but both of them died. Going to Deer Park (Migadava) in Sarnath, the Buddha preached the First Sermon (Dhamma Cakka Pavattana) to five fellow practitioners. They all understood the wonderful Dharma fully and obtained Arhanta. Thus, the Buddha, Dharma and Sangha are formed there.


Đức Phật và Tăng chúng chủ yếu nương vào thiền định để nuôi dưỡng tâm, nương vào của bố thí của người đàn việt để nuôi dưỡng thân, thích an trú vào môi trường thiên nhiên, và đạt được sự tu chứng, an lạc và hạnh phúc của tự thân để giáo hóa tha nhân. Sống đời sống không gia đình, quý Ngài có nhiều thời gian để tu tập và phục vụ chúng sanh, nương vào tình thầy trò, tình pháp lữ, tình đồng tu, tình hộ pháp và hoằng pháp để làm lợi lạc cho quần sanh.

The Buddha and His Sangha, who mainly depended on meditation – concentration, and on patrons’ alms-giving to nurture their minds and bodies, relished dwelling in the natural environment, and achieved self-attainment, joy and happiness all by themselves to instruct other people. Living their familyless lives, they who had much time to cultivate and serve human beings relied on sentiment of teacher and students, that of Dharma friends, that of fellow monks, sentiment of protecting the Dharma and propagating it to benefit living things and living beings.

Tiếp theo, nhà giàu có Da Xá (Dasa), gia đình Da Xá, các bạn, và các người thân quen của Da Xá được đức Phật giáo hóa và làm đệ tử của Ngài. Trong số đó, những vị đệ tử đức hạnh và nổi tiếng nhất được liệt kê dưới đây là:

Next, the wealthy millionaires Dasa, his family, his friends and acquaintances were instructed by the Buddha, and made His disciples. Among them, His most virtuous and renowned disciples are listed below:

Tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta) – Vị có trí tuệ đệ nhất,

Tôn giả Mục Kiền Liên (Moggallana) – Vị có lòng hiếu thảo và thần thông đệ nhất,

Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Maha Kassapa) – Vị Tổ Sư tu hành khổ hạnh đệ nhất,

Tôn giả Tu Bồ Đề (Subhuti) – Vị quán chiếu tánh không (Suññatā) đệ nhất,

Tôn giả Phú Lâu Na (Purana) – Vị giảng Sư tài giỏi thuyết pháp đệ nhất,

Tôn giả Ca Chiên Diên (Kaccayana) – Vị luận Sư tài giỏi luận giải Phật pháp đệ nhất,

Tôn giả A Na Luật (Anurudha) – Vị có cái nhìn không chướng ngại, tức Thiên nhãn đệ nhất,

Tôn giả Ưu Ba Li (Upali) – Vị luật Sư gương mẫu trì Luật đệ nhất

Tôn giả A Nan (Ananda) – Vị có khả năng nghe nhiều, tiếp thu, và nhớ kỹ Phật pháp đệ nhất,

Tôn giả La Hầu La (Rahula) – Vị có hạnh nhẫn nhục, oai nghi và tế hạnh đệ nhất.

The honored Elder Sāriputta – the chief Monk with supreme wisdom,

The honored Elder Moggallana – the chief Monk with supreme piety and psychic power,

The honored Elder Maha Kassapa – the chief Patriarch of supreme ascetic cultivation,

The honored Elder Subhuti – the chief Contemplator of supreme emptiness (Suññatā),

The honored Elder Purana – the chief brilliant Preacher of the supreme Dharma preaching,

The honored Elder Kaccayana – the chief outstanding Commenter of supreme Buddhadharma interpretation 

The honored Elder Anurudha – The chief Monk with unobstructed vision, that is, supreme Clairvoyant supernormal vision,

The honored Elder Upali – the chief exemplary Lawyer of supreme Vinaya or Discipline observance,

The honored Elder Ananda – the chief Monk with the ability to hear a lot, acquire, and remember the Buddhadharma in detail supreme,

The honored Elder Rahula – the chief Monk with the supreme patience, solemn dignity and fine action.


Khi các đệ tử của đức Phật càng ngày càng đông, đức Phật động viên và khuyên bảo: “Này các Thầy Tỳ Kheo! Hãy ra đi nhiều hướng khác nhau để hoằng dương chánh pháp và cứu độ chúng sanh, hãy đem sự tu tập, an lạc và hạnh phúc của tự thân để giáo hóa tha nhân. Vì an lạc và hạnh phúc cho chư thiên và loài người, các vị hãy truyền bá chánh pháp cho muôn loài. Giáo pháp của Như Lai toàn hảo ở chặn đầu, chặn giữa, và chặn cuối, cả tinh thần lẫn văn tự. Các vị hãy công bố đời sống thánh thiện và hòa bình cho số đông trên khắp hành tinh này.”(Xem Mahāvagga 19 – 20).

When His disciples became a large crowded, the Buddha encouraged and counseled: “O Bhikkhu! Go forth to many different directions to propagate the Dharma and save sentient beings, bring your own cultivation, joy and happiness to instruct other people. Out of peace and happiness for devas and human beings, spread the Dharma to all beings. The tathāgata’s teachings are perfect in the beginning, perfect in the middle, perfect in the end, both in the spirit and in the letter. Proclaim the holy and peaceful life to the many all over the planet.” (See Mahāvagga 19 – 20).

Về sau, đức Phật giáo hóa rất nhiều hạng người khác nhau trong mọi tầng lớp xã hội, như các vua quan, quần thần, thương gia, tôi tớ, thậm chí những kẻ hốt phân, kẻ sát nhân và kỷ nữ. Giáo pháp và Tăng đoàn của đức Thế Tôn đều có khả năng dung nhiếp những người đến từ các giai cấp, tôn giáo, màu da, chủng tộc… khác nhau. Những ai có đủ duyên tu, học, hiểu, thực hành, và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình một cách chánh niệm và tỉnh giác, thì họ có thể đem lại an lạc và hạnh phúc đích thực cho tự thân và cho tha nhân ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.

Afterward, the Buddha taught and converted very many different kinds of people, of walks of life, such as kings, mandarins, merchants, servants, even excrement-collectors, murderers and courtesans. The World-Honored One’s Dharma and His Sangha have the capability to accept people from different castes, religions, skin colours, races, etc. Those who have enough conditions to cultivate, to learn, to understand, to practice, and to apply the Buddhadharma in their daily lives mindfully and awakeningly, can bring peaceful joy and authentic happiness to themselves and to others right here and now in the present life.

Các đệ tử của đức Phật chủ yếu bao gồm hai Chúng: xuất gia và tại gia. Cả hai chúng này đều hỗ trợ với nhau như hình với bóng làm yếu tố then chốt để cùng nhau đem đạo Phật đi vào cuộc đời và giúp đời thêm vui bớt khổ.

The Buddha’s disciples mainly include two Assemblies: Assembly of Monastics and that of lay Buddhists. Both of these Assemblies that support one another as an image and its shadow make the key factors together bring Buddhism into life, and help add happiness to life and lessen suffering.

Hoằng dương chánh pháp trong 45 năm, tất cả những gì đức Phật dạy như nắm lá cây trong lòng bàn tay nhằm giúp con người nhận diện và chuyển hóa khổ đau, và giúp họ sống đời sống an vui và hạnh phúc ngay tại thế gian này.

Propagating the Dharma in 45 years, all that the Buddha taught is like a handful of tree leaves in the palm of his hand, is to help people recognize suffering and transform it, and to help them live their peaceful and happy lives right in the present world...


Trước khi nhập Niết Bàn, đức Phật khuyên dạy các đệ tử: “Hỡi các đệ tử! Các pháp hữu vi đều vô thường và biến đổi. Các vị hãy tinh tấn tu học và thực hành phật pháp nhiều hơn nữa, để đem lại an vui và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân. Đây là những lời giáo huấn tối hậu của Ta cho các người.” [Xem Trường Bộ (Dìgha Nikàya) – Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahàparinibbàna sutta) II số 16].

Before entering Nirvana, the Buddha counseled His disciples: “”O disciples! Everything is impermanent and changing. Make efforts to cultivate and practice the Buddha Dharma more, to bring joy and happiness to yourselves and to others. These are My ultimate teachings for you.” (See Dìgha NikāyaMahāparinibbāna sutta Part II, 16).

Trụ thế ở đời 80 năm, khoảng năm 544 trước công nguyên, lúc 80 tuổi, đức Phật nhập diệt tĩnh lặng, nằm nghiêng mình về hông phải, chân trái duỗi thẳng trên chân phải, đầu quay về hướng Bắc dưới hai cây song thọ tại rừng Sa La (Sala) tại quận Câu Thi Na (Kushinagar), Ấn Độ ngày nay.

Existing on this earth for eighty years, in about 544 BCE, at the age of 80, the Buddha who passed away peacefully lay on his right hip, left leg stretched out on right leg, his head turned to the North under two ancient trees in the Sala forest in Kusinagar District, India today.

Để tỏ lòng tôn kính và tri ân sâu sắc đối với đức Thế Tôn, mỗi người đệ tử của Ngài phải tự mình sống đúng với chánh pháp bằng cách không làm các việc ác, hãy làm các việc lành, giữ thân tâm thanh tịnh. Mỗi người chúng ta phải là món quà tu tập, hòa bình, an vui, và hạnh phúc đích thực để hiến tặng cho tự thân và cho tha nhân ngay cuộc đời này. 

Kính chúc Quý vị thân tâm thường an lạc và thấm nhuần giáo pháp của đức Thế Tôn!



Thích Trừng Sỹ


Lịch sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni tóm tắt-Thích Trừng Sỹ
                                                                
To pay homage and profound gratitude to World-Honored One, each of His disciples must himself or herself live right with the Dharma by not doing the evil, by doing the good, by keeping a pure body and mind. Each of us has to be a gift of cultivation, peace, joy, and true happiness to be dedicated to himself or herself and to others right in this life.

May you all be well and imbued with the Dharma of World-Honored One!

By Ven. Thich Trung Sy

(Click to watch this movie "Brief history of Lord Sakyamuni Buddha" with reaing voice in Vietnamese and English)



[1]  Xem Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta) thuộc Tương Ương Bộ (Samyutta Nikaya, 56: 11).
[2]  See the Discourse on the Turning of the Dhamma Wheel (Dhammacakkappavattana Sutta) of Connected Discourses on the Truths
   (Samyutta Nikaya, 56: 11).
[3]  Xem S. III. 28. Sāriputtasayutta;  CDB. III. Chap. VII. 1018.
[4]  See S. III. 28. Sāriputtasayutta;  CDB. III. Chap. VII. 1018.

Song Here and Now movie



PhapNhanTemple's Activities



8/15/2017: "Thư cám ơn và Hình Ảnh Gây Qũy xây dựng Chùa Pháp Nhãn tại nhà hàng Kim Sơn Chủ Nhật 13-08-2017 Video Dharma Talk "Letter of thanks and photos at Kim Sơn Restaurant in Houston on Sunday, August 13, 2017
7/12/2017: "Video Thầy Trừng Sỹ Giảng "Ý nghiã Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm" tại Phật Ân Đạo Tràng July-09-2017 Video Dharma Talk "The Meaning of Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm" at Phật Ân Temple July-09-2017
6/12/2017: "Video Thầy Trừng Sỹ Giảng tại Từ Bi Đạo Tràng Temple June-03-2017 Video Dharma Talk at Từ Bi Đạo Tràng Temple June-03-2017
6/2/2017: "Video Lễ Phật Đản at Pháp Mhãn Temple May-28-2017 Video of Vesak Ceremony at Pháp Mhãn Temple on Sunday May 28 /2017
6/2/2017: "Hình ảnh Lễ Vesak tại Chùa Pháp Nhãn lần thứ 2641, năm 2017. The Vesak Day photos at Phap Nhan Temple on May 28, 2017.
5/17/2017: "Hình ảnh Lễ Hằng Thuận at Pháp Mhãn Temple May-4-2017 Photos of Wedding at Pháp Mhãn Temple on Sunday May 4 /2017
javascript:void(0)
3/27/2017: "Hình ảnh Khóa Tu at Pháp Mhãn Temple 26-3-2017 Photos of Spring Retreat at Pháp Mhãn Temple on Sunday Mar. 26 /2017
2/28/2017:Video "Lễ Giao Thừa Xuân Đinh Dậu 01/27/2017 at Pháp Mhãn Temple Video of "New Lunar Year Eve 01/27/2017 at Pháp Mhãn Temple
2/21/2017: "Hình ảnh hành Hương at Pháp Mhãn Temple Photos of "New Year at Pháp Mhãn Temple on Sunday Feb. 12 /2017
12/12/2016:Video "Khóa Tu Tạ Ơn 27/11/2016 at Pháp Mhãn Temple Video of "Thanksgiving Retreat at Pháp Mhãn Temple on Sunday Nov. 27, 2016
11/14/2016:Lễ Hằng Thuận 12-11-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Photos of The Wedding Ceremony at Pháp Nhãn Temple on November 12, 2016
10/27/2016:Video "Tỳ-xá-khư, nữ thí chủ hộ Pháp đắc lực-Thầy Trừng Sỹ giảng tại chùa Hải Đức - Houston - TX. Video of "Visakha" by Ven. Thích Trừng Sỹ in October, 2016 at Hải Đức Temple - Houston - TX.
09/27/2016:Video "Buổi Sáng An Lành-Thích Trừng Sỹ tại Chùa Pháp Nhãn Video of "Peaceful Morning" by Ven. Thích Trừng Sỹ on Sept. 17, 2016 at Pháp Nhãn Temple.
09/10/2016:Video Lễ Quy Y 27-8-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Video of Ceremony of Taking Refuge in Three Jewels on August 27, 2016 at Pháp Nhãn Temple.
08/26/2016:Video Lễ Vu Lan 14-8-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Video of Vu Lan Ceremony August 14, 2016 at Pháp Nhãn Temple.
08/15/2016:Hình Ảnh Lễ Vu Lan 21-8-2016 tại Chùa Hội Phước - New Mexico Photos of Vu Lan Ceremony August 21, 2016 at Hoi Phuoc Temple - New Mexico
08/15/2016:Hình Ảnh Lễ Vu Lan 14-8-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Photos of Vu Lan Ceremony August 14, 2016 at Pháp Nhãn Temple
07/3/2016:Thiền Tập tại Chùa Pháp Nhãn Meditation practice at Pháp Nhãn Temple
06/31/2016:Khóa Tu An Cư Kiết Hạ cho chư vị xuất Sĩ và cư Sĩ 10 ngày tại Niệm Phật Đường ở Fremont, CA 2016 thật là hùng tráng, hạnh phúc, an vui, ý nghĩa, và thú vị. A 10-Day- Vassa - Summer Retreat for the Sangha at Niem Phat Duong Dharma Center in Fremont, CA in the year 2016 is so strongly noble, joyful, happy, meaningful, and interesting.
06/30/2016:Chư vị xuất Sĩ có duyên lành thăm viếng tôn tượng Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và các tôn tượng khác ở Oakland, CA tháng 6 2016. The Sangha has a good opportunity to visit Zen Master Thích Nhất Hạnh's respectful statue and others' different statues in Oakland, CA in June, 2016.
06/28/2016:Rải Tâm Thương Yêu - Spreading compassion heart in June 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ Chư vị xuất Sĩ và cư Sĩ có duyên lành viếng thăm và rải tâm từ tới những người thân người thương tại Viện Dưỡng Lão ở San Jose, CA tháng 6 năm 2016.
06/11/2016: video Pha1p Thoa5i "Chân Hạnh Phúc" tại Chùa Pháp Nhãn-TX 6/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - Video of Dharma Talk "The Happiness" in June 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday June 11 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
06/02/2016: video Lễ Phật Đản 2016 tại Chùa Pháp Nhãn-TX 29/5/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - Video of The Vesak Day Ceremony 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday May. 29 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
05/30/2016: Lễ Quy Y 2016 tại Chùa Pháp Nhãn-TX 29/5/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - The Ceremony of Taking Refuge 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday May. 29 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
05/30/2016: Lễ Phật Đản 2016 tại Chùa Pháp Nhãn-TX 29/5/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - The Vesak Day Ceremony 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday May. 29 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
04/3/2016: Video Khóa Mùa Xuân (Lễ Vía Đức Mẹ HIền Quan Thế Âm) tại Chùa Pháp Nhãn-TX 27/3/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of Spring Retreat (Compassion Mother Quan Thế Âm's Ceremorial Day) at Pháp Nhãn Temple on Sunday Mar. 27 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
03/4/2016: Video Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn-TX ngày 28 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of Lay Buddhists from Houston visiting at Pháp Nhãn Temple on Sunday Feb. 28, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
03/1/2016: Video Hành Hương tại các Chùa Austin-TX ngày 28 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of Lay Buddhists from Houston visiting at Temples in Austin on Sunday Feb. 28, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/29/2016: Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn ngày 28 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Lay Buddhists from Houston visiting at Phap Nhan Temple on Sunday Feb. 21, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/24/2016: Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn ngày 21 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Lay Buddhists from Houston visiting at Phap Nhan Temple on Sunday Feb. 21, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/21/2016: Cầu An - Xuân tại Chùa Pháp Nhãn Hôm nay ngày Rằm tháng Giêng Âm Lịch năm Bính Thân 2016, quý Phật tử có đủ duyên lành về Chùa Pháp Nhãn và Chùa Thái để lạy Phật, Pháp, và Tăng. (Today, the Full Moon of Lunar January of the Monkey Year 2016, everyone has enough good opportunity to visit and come to Phap Nhan Temple and Thai Temple in order to pay homage to the Buddha, the Dharma, and the Sangha.)
02/17/2016: Thầy Trừng Sỹ giảng về Cầu An - Xuân tại Chùa Pháp Nhãn ngày 14 tháng 2 năm 2016 (Dharma Talk about Praying for Peacefulness - Spring 2016 at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/16/2016: Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn ngày 10 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Lay Buddhists from Houston visiting at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/12/2016: Hình Ảnh Tết – XUÂN DI LẶC – 2016 Tết tại Chùa Pháp Nhãn By Ven. Thích Trừng Sỹ (Photos of Maitreya Spring 2016 at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/10/2016: Lễ Quy Y và Giao Thừa đón năm Bính Thân tại Chùa Pháp Nhãn ngày 8 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Photos of New Year's Eve at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/09/2016: Lễ Quy Y và Giao Thừa đón năm Bính Thân tại Chùa Pháp Nhãn ngày 8 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of New Year's Eve at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
1/19/2016: Thầy Trừng Sỹ giảng Nương Tựa An Vui (Video preached by Ven. Thích Trừng Sỹ)
1/18/2016: Thầy Trừng Sỹ giảng Ý Nghĩa Niệm Phật (Video of Dharma talk "The Meanings of Reciting Buddha's Name" by Ven. Thích Trừng Sỹ)
1/17/2016: Khóa Tu Bồ Đề Diệp được tổ chức tại Ngôi Nhà Nguyện và Chùa Tây Tạng ở thành phố Seattle, tiểu bang Wanshington. Trong Khóa Tu này, chư vị xuất Sĩ và cư Sĩ cùng tham gia thiền tập, tụng Kinh, Pháp thoại, và pháp đàm rất là an lạc. (A Retreat of Bodhi Leaf was held at a Chapel House and at Tibetan Temple in Seattle, Washington State. In the Retreat, the Monastics and lay people attended meditation practice, Sutra chanting, dharma talk, and dharma discussion so peacefully.)

poster Phat Dan 2017_VN

poster Phat Dan 2017_VN

poster Phat Dan 2017_Eng

poster Phat Dan 2017_Eng

chuongtrinhthưVN

chuongtrinhthưVN

chuongtrinhSaturday

chuongtrinhSaturday

chuongtrinhhangtuanVN

chuongtrinhhangtuanVN

chuongtrinhhangtuan_ENG

chuongtrinhhangtuan_ENG

Thầy Trừng Sỹ Giảng Chùa Bảo Quang

Donation Button

HINH AVARTA.PHOTO



New Year 2014

Lời Chúc ThanksGiving

New from Pháp Nhãn

Bấm vào xem thêm các bài viết(Please click thumnails to Read More Thich Trung Sy's Writings)

slideshow

Created with picasa slideshow.
Created with picasa slideshow.

Popular Posts

VIDEOS REVIEWS

RECENT WRITINGS

hoatraituhoc slideshow

Created with picasa slideshow.

My Blog List

Happy Vasak

NHÌN PHẬT ĐẢN QUA CON MẮT THIỀN QUÁN- BY VEN. THÍCH TRỪNG SỸ