Phap Nhan Temple

hinhPhat_banhxePhap

tam thu VN

tam thu VN

poster Phat Dan 2017_VN

poster Phat Dan 2017_VN

poster Phat Dan 2017_Eng

poster Phat Dan 2017_Eng

THƠ-POEM

Xin bấm vào link xem thêm trang Thơ của Thầy Trừng Sỹ và các Phật tử
(Please click to see more the poet page of Ven. Thich Trung Sy and Buddhists)
(Phật tử Tâm Xuân kính phổ thơ qua bài viết "Nhìn Phật đản qua con mắt thiền quán" của Thầy Trừng Sỹ)




Nhìn Phật đản qua con mắt thiền quán

Khi nghĩ về sự ra đời         
Của một Đức Phật, con người, Thánh nhân,
Ta xem là sự hình thành,
Bắt đầu, chuyển tiếp, qúa trình đời sau
Thông thường, chính là ngày đầu
Mà vị Phật, Thánh, người phàm sinh ra,
Chúng ta xem ngày đó là
Một ngày chào đời hay là ngày sinh
Con người thì gọi phàm sinh
Thánh Đản gọi cho Thánh minh chào đời
Phật Đản là Phật ra đời,
Các vị khác với con người phàm phu.
Người phàm vì bị nghiệp ngu,
Nghiệp lực tái sinh, nợ tù thế gian.
Còn Thánh Phật thị hiện ra
Nguyện lực cứu độ chúng sanh, ta bà
Đạo Phật, đạo tỉnh thức, và
Trí huệ, bình đẳng, thái hòa, từ bi,
Nguồn gốc từ Phật đản sinh
Và Phật giác ngộ, hòa bình, oai nghi.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni,
Con người lịch sử từ bi ra đời
Bằng xương bằng thịt, như người
Cách đây ba nghìn năm rồi dưới cây
Vô Ưu, vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini),
Một phần của nước Nê-pan (Nepal) bây giờ.
Năm (249) hai trăm bốn chín mà
Trước Thường lịch, sự kiện này[1] trước kia
Được vua A Dục (Ashoka) khắc ghi,
Đánh dấu kỷ niệm, và ghi rõ ràng
Sau đây Trong Kinh A Hàm:
Một chúng sinh duy nhất, này sinh ra
Xuất hiện trên thế gian này,
Con người phi thường chính vì lạc an,
Vì hạnh phúc cho số đông
Cho loài chúng sinh, con người, chư thiên
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.[2]
con người lịch sử vì độ sanh.”


Ở đây trong bài viết này,
Có 9 cái nhìn khác nhau như vầy
Viết về Phật đản ngày nay,
Sẽ được thảo luận dưới đây như vầy:Bottom of Form
1.                Nhìn Phật đản sinh thông qua
Khía cạnh người lịch sử mà sinh ra
2.                Nhìn Phật đản khía cạnh là
n dụ, huyền thoại, nhấn vào trọng tâm
3.                Nhìn Phật đản sinh thông qua
Khía cạnh biểu tượng hoa sen ra đời
4.                Nhìn Phật đản khía cạnh như
Con người tối thắng đại sư trên đời
5.                Nhìn vào Phật đản qua từ
Khía cạnh con người bình thường nhân gian
6.                Nhìn Phật đản qua con người
Kham nhẫn, trí tuệ, an vui, an lành
Hướng thượng, hướng thiện, hòa bình
Giác ngộ, giải thoát cho mình, tha nhân
7.                Tưới tẩm, nuôi dưỡng, dậy khơi
Đánh thức Phật tánh trong loài chúng sanh.
8.                Nhìn Phật đản sinh thông qua
Khía cạnh bình đẳng nhân hòa, thế gian
9.                Nhìn Phật đản sinh thông qua
Khía cạnh hòa bình, nhà nhà an vui.


1.                Nhìn Phật đản sinh thông qua
Khía cạnh người lịch sử mà sinh ra
Chính Tất-đạt-đa Cồ-đàm (Siddhārtha Gautama),
Con người lịch sử thật ngay trong đời,
Đã sống trên trái đất người
Cách đây 3 nghìn năm rồi đến nay
Khi Ngài sinh ra 7 ngày,
Mẹ Ngài, thánh Mẫu Ma Da (Māyādevī) qua đời.
Mẹ kế của thái tử là
Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Mahāpajāpatī Gotamī) này
Chăm lo Ngài rất tận tâm,
Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) Thân phụ Ngài Thế Tôn.
Lớn lên, thái tử kết hôn
Công chúa Da Du Đà La (Yasodharā) xinh hiền,
Có con trai duy nhất tên
Là La Hầu La (Rāhula) rất hiền và ngoan.
Dù sống nhung lụa, giàu sang,
Thái tử cảm thấy buộc ràng, xung quanh,
Không thoải mái, chẳng  tự do,
Ngài cùng Sa Nặc người hầu cưỡi xe
Thực hiện một chuyến xa nhà
Khỏi 4 cửa thành để thăm bên ngoài.
Để xem cảnh thật dân Ngài,
Mong dân hạnh phúc, tương lai tràn trề
Vì trong cung điện đề huề,
Ra khỏi cửa thành, đi về hướng Đông,
Ngài, Sa Nặc gặp người già;
Hai người đi về hướng Tây, tức thì
Hai người gặp người bệnh đi;
Hướng Nam, người chết, tử thi bên lề;
Và đi về hướng Bắc, thì
Gặp vị Khất sĩ tu trì, an nhiên.
Trong bốn cảnh thật đầu tiên
Thái tử chứng kiến, Ngài liền thấy ngay
Cảnh thật thứ tư đó là
Hình ảnh thái tử thích ngay rất nhiều;
Của vị khất sĩ an nhiên,
Ung dung, thư thới, nhẹ nhàng, thong dong,
Hình ảnh khắc sâu vào trong
Tâm trí thái tử, trong lòng Ngài ngay
Đưa cho thái tử tới đây
Cuộc đời thiền quán sau này, rất hay.
Thái tử trở thành bậc Thầy
Tu sĩ cuộc sống không nhà, vợ con.
Không có cung điện  xung quanh,
Không bị ràng buộc cháu con, gia đình.
Xuất gia 29 tuổi xuân,
Vị Tất Đạt Đa (Siddhārtha), với tâm thuận thành
Học đạo với hai vị này:
Ngài tu khổ hạnh 6 năm rừng già
Ngài trải qua cùng với 5
Anh em Tôn giả Kiều Trần Như (Kondañña) đây,
Thấy lối tu khổ hạnh này
Và sự chứng đạo thực hành lệch sai
Của họ bị thiên kiến hoài,
Không được hoàn hảo, viên thành, lạc an.
Ngài quyết định rời họ và
Chọn đường Trung Đạo (majjhimāpaṭipadā) cho mình tiến tu
Bằng cách thực tập lối tu
Không khổ hạnh ép xác tù khổ sai
Không tham đắm dục lạc hoài.
Và khi nàng Su Dà Ta (Sujata) cúng dường,
Một bát cháo sữa trên đường,
Sau đó rồi Ngài dùng luôn, khỏe người
Bồ tát Tất Đạt Đa vui
Nhận cỏ Kiết tường (Kusa) của người nông phu,
Đi tới Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya),
Ngài thiền định 49 ngày đêm liền
Thành đạo dưới cội Bồ đề.
Bồ tát giác ngộ hướng về Từ Bi
Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni)
Lúc 35 tuổi Xuân thì nở hoa.
Tính theo Phật đản hay là
Ra đời Ngài Tất Đạt Đa (Siddhartha) Thánh hiền
Tính vào khoảng trước công nguyên,
Năm (624) sáu trăm hai bốn liền đến nay
Lấy năm đó cộng năm nay,
Nghĩa là đến năm (2013) Hai ngàn mười ba,
Phật đản lần thứ đó là
(2637) Hai ngàn sáu trăm ba mươi bảy này.
Nghĩa Tất Đạt Đa (Siddhartha) rất hay
Người toại nguyện, hoàn hảo nhà Như Lai
Tốt đẹp đầy đủ cả hai
Phước đức, trí tuệ, biện tài, từ bi.
Tính theo Phật lịch đã ghi
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn
Tính từ lúc nhập niết bàn
(544) Năm trăm bốn bốn đến nay như vầy
Lấy năm đó cộng năm nay,
Nghĩa là đến năm (2013) Hai ngàn mười ba,
Phật lịch lần thứ đó là
(2557) Hai ngàn Năm trăm năm mươi bảy rồi.
Đức Phật Thích Ca là Người
Sáng lập đạo Phật sáng tươi trong lành
Đạo tỉnh thức, đạo hòa bình,
Trí tuệ, bình đẳng, từ bi nhiệm mầu.
Thích Ca (Sakya) là cái họ đây;
Mâu Ni (Muni) xuất Sĩ tự do, an lành.
Thích Ca Mâu Ni, nghĩa là
Người con dòng họ Thích Ca (Sakya) tại thành
Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), an lành
Có niềm hạnh phúc, lạc an thật nhiều,
Vững chãi, thảnh thơi, thương yêu
Hiểu biết, tu học với nhiều tự do
Xuất gia tu tập, hết lo
Thành đạo, giải thoát, tự do, hòa bình,
Đem lại hạnh phúc chúng sinh
An lạc trên khắp hành tinh, ta bà.
Trong suốt 45 năm qua,
Hoằng dương chánh pháp Thích Ca độ đời.
Nhập niết bàn tuổi (80) tám mươi
Đức Phật giáo hóa nhiều người khác nhau
Như vua, quần thần, thương gia,
Kẻ cướp, tôi tớ, hốt phân, nữ tỳ
Những ai có đầy đủ duyên
Học Phật, nghe pháp, tu trì Pháp môn
Thực tập giáo pháp Thế Tôn,
Chánh niệm, tỉnh giác vào trong cuộc đời,
Sau đó, hạnh phúc, thảnh thơi
Khả năng thấm nhuần dịu vời thân tâm.
Theo với cái nhìn tương quan
Và tương duyên, cho chúng ta thấy là
Con người lịch sử thật mà,
Con người thành Phật, tu hành, thuyết Kinh
Nói pháp, và nhập niết bàn,
Tuy hai là một, một là hai đây,
Tựa như nước với sóng này,
Sóng , nước; không thể tách và rời nhau.
Cho nên nếu hiểu thật sâu,
Hai hạng người này nương vào với nhau.
Sống suốt cuộc đời hợp hòa
Vào môi trường thiên nhiên này như đây.
Vị sơ sinh Tất Đạt Đa,
Tức là đức Phật sinh ra trên đời
Bên dưới nhành cây Vô Ưu
Ở trong vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini), đó mà
Thành đạo dưới cây Bồ Đề (Bodhi tree)
Ngay tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) linh thiêng,
Ngài nói bài Pháp đầu tiên
Tứ Diệu Đế ở vườn Nai (Sarnath) 5 người
Anh em Ông Kiều Trần Như,
Ngài nhập niết bàn tại rừng Sa La (Sala)
Ở tại thành Câu Thi La (Kusinagar)
Dưới 2 cây song thọ Ngài ra đi
Bốn Thánh địa quan trọng này
Của Phật giáo cũng nhằm tiêu biểu cho
Đức Phật, cuộc đời của Người
Luôn sống bảo vệ môi trường thiên nhiên
Rất chu đáo và rất hiền
An lạc, tự tại, và nhiều thảnh thơi.
Như ong đi tìm hoa tươi,
Nương hoa để hút mật đường hoa đây
Ong chỉ hút mật rồi bay,
Không làm hại hương sắc màu của hoa.”[3]
Đức Phật nói về loài Hoa
Để ẩn dụ cho môi trường thiên nhiên;
Mật là biểu tượng sau đây
Pháp học, pháp hiểu, pháp hành, pháp an,
Pháp lạc, pháp vị, pháp lành;
Ong dụ cho đệ tử Ngài cũng như
Đức Phật đã biết cách nương
Và biết dựa vào môi trường thiên nhiên
Để sống, tu tập, để vui,
Để làm đạo, và để nương ngay vào
Ba Ngôi Báu: Phật, Pháp, Tăng
Để xây hạnh phúc, hòa bình, tình thương,
Và cho chúng sinh số đông.
Nhìn Phật đản tóm lượt xong qua này
Khía cạnh người lịch sử,[4]
Bây giờ kế đến chúng ta
Tiếp tục tìm hiểu cho ra như vầy
Các tính đặc thù sau này
Tiếp theo của Phật đản nay như là.

2.      Nhìn Phật đản khía cạnh là
n dụ, huyền thoại, nhấn vào trọng tâm
Khi nhìn sâu sự sinh ra
Ra đời của đức Phật, ta thấy rằng
Tính đặc thù Phật giáo hay
Mang nhiều ý nghĩa rất quan trọng này
Để chúng ta học hỏi đây.
Bổn sanh truyện (Jàtaka)[5] ghi lại rằng như sau,
Hoàng hậu Thánh Mẫu Ma Da (Maya)
Và vua Tịnh Phạn (Suddhodana) hơn 40 tuổi rồi
Mới có con trai đầu lòng.
Thông thường, các cặp vợ chồng sống chung
Và ăn ở với nhau cùng
Một năm hay nhiều năm chung, cho dù
Trai hay gái, họ rất mong
Có một hay hai người con ra đời
Để mà nối dõi tông đường
Nối dõi sự nghiệp tổ tiên hai đằng
Huyết thống và cả tâm linh
Khi con đầu lòng vừa sinh ra đời,
Thì vợ chồng và gia đình
Hai bên nội ngoại thật tình rất vui
Họ rất sung sướng, chính vì
Đứa con, kết quả của tình lứa đôi.
Hoàng hậu, Vua cũng vậy thôi
Mong muốn có con ra đời để mau
Tiếp nối dòng họ Thích-ca (Sakya) sau này.
Sự nghiệp hoàng cung giàu này
Mong muốn của họ được thành tựu đây,
Họ có con đầu lòng này.
Sau khi thái tử sinh ra ba ngày,
Vua mời tiên A Tư Đà (Asita)
Vào cung, làm lễ đặt tên cho Ngài
Thái tử là Tất Đạt Đa (Siddhartha);
Nghĩa Tất Đạt Đa (Siddhartha) rất hay, đó là
Người toại nguyện, đủ cả hai
Phước đức, trí tuệ, khả năng trở thành
Một vị xuất Sĩ lạc an,
Giác ngộ, tỉnh thức rất là thảnh thơi,
Và Ngài đem đạo vào đời
Giúp đời bớt khổ thêm vui, hòa bình.
Trong lúc mang thánh thai nhi,
Hoàng hậu, Vua, trong triều đình, cũng như
Các người hoàng tộc luôn luôn
Làm, nói việc thiện, nghĩ suy việc lành
Là để huân tập, ướp xông,
Tưới vào tâm thức trắng trong của Ngài.
Chính nhờ các việc thiện này
Thấm sâu vào tâm thức Ngài trong thai,
Giúp thai nhi có khả năng
Nuôi dưỡng, phát triển, tạo thành có luôn
Chất liệu bình đẳng, tình thương,
Hòa bình, trí tuệ, từ bi, sau này.
Ý nghĩ và việc làm hay
Của họ mang nhiều nghĩa hay trong đời
Rất tích cực, thiết thực rồi
Đem lại hạnh phúc, an vui cho mình
Cho cả số đông, thai nhi.
Đây bài giáo dục thai nhi đầu tiên
Vô cùng giá trị và nhiều
Quý báu cho nhân thế.[6]  truyền đến nay.
Ta thấy thời gian mang thai,
Cả vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và Bà Ma Da (Maya)
Cùng với các quan, quần thần,
Trong hoàng tộc nỗ lực thân tu hành
Bằng cách làm những phước lành,
Đem nhiều lợi ích cho mình, tha nhân.
Thực hiện được như vậy hoài,
Hoàng tộc trong triều đình Ngài đều vui
Không những hạnh phúc đạt rồi,
Mà thai nhi còn an vui, hiền hoà.
Đây chất xúc tác lạc an,
Mạnh mẽ, hạnh phúc tạo thành và luôn
Nuôi dưỡng hạt giống thánh thai
Nẩy mầm, đức Phật sơ sinh ra đời.[7]
Hạnh phúc thay Phật ra đời,
Hạnh phúc thay pháp tuyệt vời cao minh,
Hạnh phúc thay Tăng đoàn an,
Hạnh phúc thay Tứ chúng đồng tu tâm.
(Kinh Pháp cú kệ số 194)
Trong một vài bài Kinh văn
Của Phật giáo, tả sự ra đời này
Kỳ diệu của Phật Thích Ca,
Nhưng người viết sử sau này thường hay
Thêm thắt khía cạnh sau đây
Huyền thoại, trang trọng, tôn thờ, thiêng liêng,
Và sự mầu nhiệm của Ngài.
Và những khía cạnh này bao gồm nhiều
Ý nghĩa ẩn dụ dùng ghi
Diễn tả như vầy trước khi Mẹ Ngài
Ma Da (Maya) Bà mang thánh thai;
Người ta nói rằng bà nằm mộng mơ
Thấy Bồ tát Hộ Minh (Vessantara, Sumedha) từ
Cung trời Đâu Xuất (Tusita), làm như thế này
Ngài cỡi voi trắng sáu ngà,
Vào hông bên phải của Bà Ma Ya
Từ đó thì Bà mang thai.[8]
Cung trời Đâu Suất là nơi Tiên thần
Bồ tát Hộ Minh (Vessantara)[9] giáng trần;
Ở ngay điểm đó, chúng ta thấy rằng
Phật giáo cũng chấp nhận rằng
Khái niệm cõi trời và hàng chư thiên.[10]
Theo quan điểm đặc thù riêng
Của Phật giáo, trời cũng là chúng sanh
Ở dạng phước báo an lành.
Tùy theo nghiệp tạo tác lành, ác thôi,
Chúng sanh sinh về cõi trời,
Cõi A Tu La (Asura), cõi người, súc sanh.
Địa ngục, ngạ quỷ, tái sanh
Cõi trời, chúng sinh sống lành, an vui
Trải nghiệm sung sướng mà thôi.
Điều đó khó cho họ đồng tập tu.
Vì họ chỉ hưởng thụ vui,
Nên họ không chịu thoát đời khổ đau.
Cõi người trên thế gian này,
Chúng sinh có sướng, khổ đau thăng trầm.
Đó là cơ hội tốt lành
Cho họ tu tập, thực hành hướng thiên
Giác ngộ, giải thoát, giúp mình,
Và giúp người khác tu hành vãng sanh.
Ở tại cõi A Tu La,
Chúng sanh nóng nảy, sân và chiến tranh.
Ở cõi địa ngục, chúng sanh
Luôn bị tra tấn, hành hình, tội nhân
Ở cõi ngạ quỷ, chúng sanh
Luôn bị lạnh, đói, khát, tham lam nhiều.
Ở cõi súc sinh, chúng sanh
Ăn tươi, nuốt sống, hôi tanh, bùn lầy.
Chính ở trong ba cõi này
Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, như vầy
Chúng sanh luôn bị tù đầy
Hành hạ, khổ sở, mặt mày ác hung
Chúng hiếm có hoặc là không
Có được cơ hội, thời gian tu hành.
Theo giáo lý thiết thực này
Phật giáo nói rằng chúng sanh luân hồi
Trong sáu cõi cũng đều do
Ba nghiệp thân, khẩu, ý làm ra thôi
Ngay trong đời này mà thôi.
Nghiệp thiện, tái sinh cõi người, trời tiên
Nghiệp bất thiện, thì tái sinh
Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hay là
Vào các cõi A Tu La.
Chúng sinh cõi trời thường là an vui
Phước báo nhiều hơn cõi kia.
Chính vì hạnh nguyện độ sinh, nên từ
Cõi trời Đâu Suất (Tusita), như như
Bồ Tát Hộ Minh (Vessantara) hiện nơi Ta bà
Ngài đến bằng cách đầu thai
Làm con Tịnh Phạn (Suddhodana) chính là Vua Cha
Và Mẹ hoàng hậu Ma Da (Maya),
Tức thái tử Tất Đạt Đa thành hình.
Theo lý tương tức duyên sinh
Phật giáo, nói rằng khi tinh cha cùng
Noãn sào của mẹ, tử cung,
Ân ái, giao hợp tinh trùng mẹ cha,
Thời gian thụ thai, mang thai,
Của một người mẹ đều là như đây
Yếu tố rất quan trọng và
Rất cần thiết để hình thành thai nhi.
Bên cạnh yếu tố ấy, thì
Trong quá trình phát triển, hình thành đây,
Thai nhi phải phụ thuộc vào
Yếu tố cần thiết khác sau đây là
Ánh sáng, sự chuyển động, và
Không khí, hơi ấm, chất lành, vân vân…,
Đặc biệt là phụ thuộc vào
Sự có mặt và sự liên kết này
Lại với thức tái sinh (Patisandhi)[11] này
Hay là hương ấm (Gandhabha)[12] , như vầy thì nên.
Trong nhiều đời các nhân duyên
Quá khứ, hiện tại, hiện tiền, tương lai,
Tùy theo nguyện lực của ai
Nghiệp lực của mỗi người này khác nhau,
Thức này kết nối, nhập hòa,
Vây mượn, thành năm uẩn này sau đây
(Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) này
Của cha, của mẹ hình thành thai nhi.
Chu kỳ sinh, tử, tái sinh,
Khoảng chín tháng và mười ngày, thai nhi
Hình thành, tiếp nối, lớn lên,
Già, chết, tiếp tục chuyển vào đời kia,
Và rồi cuối cùng được sinh
Vào một đời sống mới tinh, vô thường.
Nhưng trong trường hợp ra đời
Của Bồ-tát Tất-đạt-đa (Bodhisattva Siddhārtha), như vầy
Với đời sống chuyển tiếp này
Cuối cùng Bồ tát Hộ Minh (Vessantara),[13] chính vì
Nguyện lực giáo hóa, độ sinh,
Từ trời Đâu-suất (Tusita), Hộ Minh thành hình
Hiện thân đức Phật hài nhi,
Là Đức Thích Ca Mâu Ni, diệu huyền.
Để thực tập, tưởng nhớ nhiều
Công hạnh giáo hóa chúng sinh của Ngài,
Trong lễ Phật đản hằng năm,
Chư vị cư sĩ, xuất gia trong Chùa
Thường hay xưng tán, cúng dường,
Lễ lạy Ngài trong Phật đường như sau:
Bồ tát Hộ Minh, nhiệm mầu
Trên trời Đâu Suất, sinh ra ta bà
Báo mộng hoàng hậu Ma Da,
Cỡi con voi trắng sáu ngà, vào ngay
Hông bên phải của mẹ Ngài.
Bé sơ sinh Tất-đạt-đa, chào đời
Ở dưới gốc cây Vô Ưu,
Thị hiện ra đời để đem hòa bình
An lạc, hạnh phúc, độ sinh,
Được chín rồng phun nước trong tắm Ngài,
Ngài đi bảy bước, khoan thai
Trên bảy đóa hoa sen, và chỉ tay
Trên dưới dõng dạc nói rằng:
Trên trời dưới đất, chỉ Ta con Người
Giác ngộ, tỉnh thức quý tôn
Chúng sanh có Phật tánh trong mọi loài.[14]
Từ ngữ đề cập như trên,
Voi, màu trắng, sáu ngà, bên phải,
Cây, vô ưu, số 9, rồng,
Nước, số 7, bước, con người, hoa sen,
Đều là những biểu tượng cho
Ẩn dụ, nhấn mạnh: Hông bên phải
Biểu tượng huyền thoại; ở đây
Huyền thoại có nghĩa là câu chuyện về
Hàm chứa ý nghĩa thiêng liêng
Trang trọng, mầu nhiệm, diệu huyền, kính tôn.
Voi tượng trưng sức mạnh hơn,
Vững chãi, tự tại, thái hòa, thong dong,
Màu trắng chỉ cho sạch trong,
Và sự tinh khiết, không ô nhiễm gì;
Sáu ngà tượng trưng cho là
Sáu hạnh nguyện đích thực này sau đây
Bố thí, trì giới, nhẫn kiên,
Tinh tấn, trí tuệ, định thiền” thân tâm
Của một vị Bồ tát này
Vào đời cứu độ chúng sanh, muôn loài.
Bên phải là bên thuận theo
Chiều kim đồng hồ, đi từ hướng Đông
Sang hướng Nam, Tây, Bắc luôn.
Bên phải ý nghĩa chỉ cho
Hướng đi đem đạo vào đời thuận duyên,
Giúp đời vui bớt khổ phiền
Bên phải nghĩa chân lý, nhiều tốt, hay …
Sinh ra hông bên phải đây
Của Bà Hoàng hậu Ma Da nghĩa là
Tượng trưng huyền thoại; thực ra,
Thái tử Tất-đạt-đa đây bình thường
 Cũng như các bé trẻ thơ,
Bao nhiêu người khác trên đời này[15] thôi.
Ta biết hông bên phải
Có thật đối lại hông bên trái này
Ý nghĩa chỉ tượng trưng cho
Hợp chân lý, lẽ phải và thuận duyên.
Điểm này được nhấn mạnh liền
Và luôn nhắc nhở chúng ta rằng là
Con người tứ đại của ta
(Đất là chất cứng, nước là chuyển lưu,
Lửa là nóng, gió chuyển lay)
Kết hợp thành năm uẩn này sau đây
(Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) này
Như thái tử Tất-đạt-đa (Siddhārtha), như vầy
Mỗi chúng ta đều khả năng
Giác ngộ, giải thoát, tu tâm như Ngài
Nếu mỗi người cố gắng ngay
Chánh niệm, tỉnh giác, hằng ngày thảnh thơi.
Ngoài con người ra, trên đời
Không có thần linh thế người được đâu.
Vị Bồ tát Hộ Minh (Vessantara)[16] này
Cỡi con voi trắng sáu ngà vào ngay
Hông bên phải bà Ma Da;
Hông bên phải ý nghĩa là tượng trưng,
Ẩn dụ,nhấn mạnh rằng
Người giác ngộ, tỉnh thức nào muốn đem
Đạo vào đời độ chúng sanh,
Tập sáu hạnh nguyện độ sanh ngay liền:
Bố thí, trì giới, nhẫn kiên,
Tinh tấn, trí tuệ, định thiền” thân tâm
Khi sáu hạnh nguyện độ sanh
Thực hiện hoàn hảo, đủ đầy, thành tâm
Vị Bồ tát có khả năng
Đem đạo vào đời giúp thêm vui lành.
Vị Bồ tát ở đây là
Nói thái tử Tất-đạt-đa (Siddhārtha), ra đời
Lớn lên, xuất gia tuyệt vời,
Đắc đạo, hoằng pháp, độ sanh đời này.
Hòa nhập vào đời độ sanh,
Nhưng Ngài không bị đời làm nhiễm ô,
Thân và tâm của Ngài luôn
Giữ được chánh niệm, vững vàng, thảnh thơi,
Và rất tinh khiết, sạch trong,
Và để áp dụng, noi gương, thực hành
Hạnh nguyện giáo hóa chúng sanh
Của đức Thế Tôn, mỗi ta phải là
Mỗi người hành giả lạc an,
Mỗi Bồ tát đích thực này, cùng nhau
Đem đạo vào đời mau mau
Giúp đời hạnh phúc, an vui, hòa bình.


(Bồ tát Hộ Minh[17]Vessantaratiền thân đức Phật Thích Ca)
Nhìn ý nghĩa phân tích trên,
Bồ tát, tiếng Phạn như ta biết là
Bodhisattva bao hàm
Hai từ Bodhi, Sattva; như vầy
Bodhi là tỉnh thức hay
Giác ngộ, Sattva nghĩa là người nhân.
Bồ tát - Bodhisattva
Là người tỉnh ngộ khả năng như vầy
Khơi dạy và đánh thức ngay
Phật tánh người khác tỏa ra sáng ngời,
Khả năng tưới tẩm vun trồng
Hạt giống giác ngộ người kia nẩy mầm,
Và có khả năng tinh thần
Hướng dẫn người khác tu hành trang nghiêm,
Và hướng tới giác ngộ liền
Và được giải thoát như mình, an vui.
Đây chính là điểm đặc thù
Của đạo Đức Phật, xưa như nay là,
Hễ ai đầy đủ duyên lành
Tu tập Phật pháp chính mình an vui,
Hạnh phúc, giác ngộ, thảnh thơi
Giải thoát, bình đẳng mỗi người như nhau.
Thực vậy, đạo Phật tôn rằng
Con người là tối thắng ngay đời này.
Trong âm Hán Việt, giải rằng
Chữ “Hộ” trong chữ “Hộ Minh” chính là
Động từ có nghĩa giữ gìn,
Phát triển, bảo hộ, duy trì, vân vân…;
Chữ “Minh” trong “Hộ Minh
Là danh từ có nghĩa là sạch trong,
Sáng suốt, sáng tỏ, rõ ràng,
Tinh khiết, tuệ giác, sáng trong tỏa ngời…
Hộ Minh (Vessantara)[18] là đạo hiệu tâm
Của vị Bồ tát giáng trần thế gian
Nghĩa là Người có khả năng
Giữ đèn tuệ giác soi đường thế gian,
Để đem hạnh phúc, lạc an
Và đích thực cho thế gian ta bà.
Hiện thân Ngài Tất Đạt Đa,
Cũng là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni,
Khả năng đem lại từ bi
Trí tuệ, bình đẳng, hòa bình, tình thương,
Và hạnh phúc cho số đông
Trên khắp hành tinh muôn phương trời này.
Nhân tiện đây, thì chúng ta
Tìm hiểu ý nghĩa cụm từ sau đây
Hán Việt “thị hiện đản sanh”;
Thị hiệncó mặt ở đây nơi này;
Đản sanh” có ý nghĩa là
Sự ra đời vị Thánh Tăng, đó là
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Ở đâythế giới Ta bà này đây,
Cũng là nơi mà chúng ta
Đang sống có nhiều thiên tai, tranh giành
Chiến tranh, cướp bóc … xảy ra.
Tất cả điều ấy đều là vì do
Tham, sân, si, ác kiến, nghi, mạn … này
Chính của con người tạo ra.
Đức Phật, đạo Phật có trên cuộc đời
Giảng dạy, giáo hóa con người
Biết chuyển hóa tham, sân, si…, trong đời
Biết bỏ ác, làm lành thôi,
Hướng thiện, hướng thượng, biết tu, thực hành
Áp dụng lời Phật dạy răn
Vào trong đời sống hằng ngày chúng ta,
Sống đời sống chánh niệm và
Tỉnh giác, vững chãi, thảnh thơi, an nhàn,
Đem lại hạnh phúc lạc an
Cho số đông tại thế gian nơi này.
Cũng vậy, vì thương chúng sanh,
Đem lại hạnh phúc, lạc an trên đời
Cho chư thiên và loài người,
Đức Thích Ca thị hiện ra Ta bà,
Có mặt ở đây bây giờ
Lắng nghe, chia sẻ cuộc đời đau thương,
Than khóc, khổ đau vô thường
Của chúng sinh vì tội tù, chiến tranh,.
Người giúp cho các chúng sanh
Thấy rõ hướng đi hòa bình, thương yêu,
Bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau
Bằng cách thực hành thâm sâu con đường
Bát Chánh đạo tám làn xe (the eightfold lane highway),
Mỗi điều biểu hiện Bánh Xe đây mà
Tám điều chân chánh đó là
“Cái thấy, suy nghĩ, nói lời chánh tâm
Việc làm, nghề nghiệp, siêng năng
Nhớ nghĩ, tập trung, duy trì chánh tâm.”[19]
Và Tám làn xe chạy này
Thì luôn hỗ trợ với nhau, có nhiều
Mối tương quan và tương duyên
Với nhau rất mật thiết trên đời này;
Nghĩa là một là tám đây
Và tám là một, như đây đó mà.
Thực vậy, con đường thánh này
Tám bánh khả năng đủ đầy dựng xây
Trí tuệ, hòa bình, tình thương,
Đích thực cho số đông, và khả năng
Đưa chúng sanh tới bờ an
Hạnh phúc cho mình, tha nhân đời này.
Qua những thảo luận trên đây,
Cụm từ Bồ tát Hộ Minh (Vessantara), với là
Cõi trời Đâu Suất, hay là
Voi trắng sáu ngà, hông bên phải, này
Và thị hiện được trình bày.
Kính mời quý vị cùng nhau luận bàn ,
Tìm hiểu những từ ngữ này
Tiếp theo như cây Vô Ưu, chín rồng,
Phun nước, bảy bước, hoa sen,
Dõng dạc nói rằng, và kèm cái ta.
Dưới cây Vô Ưu (Ashoka, Sorrowless Tree), sinh ra
Ngài Tất Đạt Đa (Siddhārtha) sơ sinh hay là
Đức Phật sơ sinh liền đi
7 bước trên 7 hoa sen, và rồi
Tay phải Ngài chỉ lên trời,
Tay trái chỉ xuống đất, rồi nói ngay
Trên trời dưới đất cái Ta (Atta),
Phật tánh, tức là con người giác thôi
Là tôn kính, quý trọng thôi.
Tất cả chúng sinh có lòng Phật tâm.[20]
Như ta biết tất cả là
Các cụm từ cây, Vô Ưu, chín, rồng,
Phun, nước, bảy bước, hoa sen,
Dõng dạc nói rằng, cái ta … đều là
Hàm chứa ý nghĩa tượng trưng,
Ẩn dụ, nhấn mạnh, tầm quan trọng này.
Cây đây được ẩn dụ cho
Hoàng hậu Ma Da hỷ hoan, vui mừng
Bà trên 40 tuổi rồi
Mới sanh con,[21] vị thánh hài nhi này,
Tức đức Phật sơ sinh đây,
Con người toại nguyện đủ đầy cả hai
Phước đức, trí tuệ biện tài;
trong vô ưu nghĩa là cái không;
Ưu ưu phiền, lo buồn,
Ưu là không lo âu, không phiền,
Vậy, cây vô ưu nghĩa là
Cây không phiền muộn, không sầu, không lo
Minh họa cho hai mẹ con
Bà Ma Da, Tất Đạt Đa (Siddhārtha) chào đời.
Vì không bị phiền não và
Ưu phiền chế ngự, nên Bà Ma Da
Có khả năng hiến tặng cho
Trái đất này một con người uy nghi
Tỉnh thức, giác ngộ, từ bi
Giải thoát trọn vẹn, tu trì, thành tâm,
Đức Phật lịch sử hiệu là
Thích Ca Mâu Ni sau này thiêng liêng.
Chính vì không bị não phiền
Ưu phiền chế ngự, đủ duyên ra đời
Thái tử Tất Đạt Đa, rồi
Khi Ngài lớn lên trong đời, xuất gia,
Tu tập, giác ngộ, tu hành
Đem lại hạnh phúc, lạc an muôn loài.
Nhìn theo tương tức, quán thiền
Hạnh phúc người mẹ chính là của con,
Hoan hỷ của mẹ chính là
Hoan hỷ của con, người thân gia đình
Hoàng thân quốc thích, triều đình,
Bá dân thiên hạ của mình… hết luôn
Thánh Mẫu Ma Da hỷ vui,
Nuôi dưỡng thánh thai, và Người sinh ra
Một Thánh hài nhi từ bi,
Không ưu phiền,[22] có mặt trên đời này
Đem lại tình thương, hòa bình
Cho cả pháp giới chúng sinh ta bà.
Một khi hạt giống thánh đây,
Hạt giống hạnh phúc và đầy an vui,
Có trong con người thánh rồi,
Con người hạnh phúc, an vui đó là
Hạt giống này, con người này
Đem lại đích thực an lành, khắp nơi
Cho nhân loại khắp phương trời
Và cả hành tinh cuộc đời này luôn.
Phần số 2 được trình bày
 Ở phần số 9: sau này dưới đây
Nhìn Phật đản sinh thông qua
Khía cạnh hòa bình, xin mời xem sau.
3.      Nhìn Phật đản sinh thông qua
Khía cạnh biểu tượng hoa sen ra đời
Sinh ra dưới cây Vô Ưu,
7 bước trên 7 hoa sen.[23] Phật Đà
Các bước chân đi của Ngài
Đều có sen nâng gót hài xinh hoa.
Những bước đi đích thực là
Bước đi hạnh phúc, lạc an cho đời
Số đông nhằm báo hiệu vui
Thế Tôn xuất hiện ra đời nơi đây.
Bảy đóa sen nâng gót hài,
Nở giữa đầm sen đấng Ngài từ bi.”[24]
Sen hồng ở đây tượng trưng
Cho sự tinh khiết, sạch trong, vững vàng,
Tỉnh thức, chánh niệm, thảnh thơi.
Ngữ cảnh này, sen tượng trưng cho Ngài
Và các đức tính của Ngài.
Bảy đóa sen hồng cũng là tượng trưng
Cho bảy đức Phật:[25] sau đây
Tỳ Bà Thi (Vipassì Buddha), Thi Khí (Sikhì Buddha), Tỳ Xá Phù (Vessabhù Buddha),
Câu Lưu Tôn (Kankusandha Buddha), Câu Na Hàm (Konàgamana Buddha), Ca Diếp (Kassapa Buddha), Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha) này. Trước sau như một, bảy Ngài
Đầy đủ đức tính đặc thù như trên.
Bước tịnh” nghĩa là bước đi
An lạc, bình đẳng, hòa bình, tình thương,
Và tiêu biểu cho bước đi
An vui, hạnh phúc, vững vàng, thảnh thơi
Của đức Phật, đạo Phật,
Cả các đệ tử của Ngài Thích Ca.
Ngay ở câu thơ thứ hai,
Chúng ta bắt gặp các từ đầm sen,
Sen, Đấng từ bi này;
Đầm được hiểu là thế gian; ta bà
Sen được ẩn dụ cho là
Đấng từ bi, tức chỉ cho Phật Đà,
Người có tình thương bao la
Rộng lớn đối với muôn loài chúng sanh.
Khi đề cập tới đầm sen,
Ta nghĩ tới đất, nước, không khí, và
Đặc biệt là bùn trong ao.
Sen mọc trong bùn, trong đầm, thì sen
Mới có giá trị, sạch trong,
Tinh khiết mặc dầu sen không bao giờ
Mọc ở đất, nước sạch trong.
Sen ở đây tượng trưng cho tịnh lành
Của đức Phật, cụ thể là
Ngài Tất Đạt Đạ, sinh vào thế gian,
Thái tử tu tập, xuất gia,
Giác ngộ, thành Phật và Ngài vì mong.
An lạc hạnh phúc số đông,
Tình thương rộng lớn bao la của Ngài
Đối với tất cả chúng sanh,
Những chúng sanh nào có duyên với Ngài,
Học Phật, nghe pháp, kính Tăng,
Thì Ngài nhiếp hóa được ngay chúng liền,
Và vượt thoát tiếng khen, chê
Và những chỉ trích của đời thế gian.
Đức Phật nương vào thế gian
Hoằng pháp, giáo hóa chúng sanh muôn loài,
Đem lại hạnh phúc, an vui,
Cho các chúng sanh, cuộc đời an nhiên
Đức Phật sống đời sống thiền
Chánh niệm, tỉnh thức, vững vàng, thảnh thơi,
An vui, hạnh phúc muôn đời,
Phản chiếu trong cử chỉ, lời nói hay,
Ý nghĩ, việc làm của Ngài
Hoàn hảo, trọn vẹn thế gian tôn thờ.
Nếu Ngài sinh sống cõi trời,
Thì chúng sinh ở cõi đời thế gian
Không biết Ngài ở ta bà
Không có cơ hội thờ tôn kính Ngài.
Theo giáo lý Duyên sinh này,
Sen được làm chất không là phải sen
Như ánh sáng, không khí, bùn…,
Trong bùn, sen không bị bùn nhiễm ô;
Nó vươn lên mặt nước trôi,
Vượt khỏi mặt nước tốt rồi nở hoa
Tươi đẹp, và kết hạt tròn.
Cũng vậy, sống và hoằng dương Pháp mầu
Chánh pháp suốt 80 năm,
Đức Phật không bị đời làm ố hoen,
Không bị vô minh não phiền,
An trú, chánh niệm, định, thiền trong tâm
Đem lại hạnh phúc tự thân
An lạc cho cả tha nhân trên đời.
Ở điểm này, bùn dụ cho
Phiền não tham, sân, si, và thị phi,
Khen chê của thế gian ni;
Sen dụ cho kết quả tu tập thiền
Của đức Phật thật cao siêu
Quá trình tu tập và truyền Pháp môn
Hoằng dương chánh pháp Thế Tôn
Cũng là quá trình giúp cho bao người
Hành giả nhận diện và rồi
Chuyển hóa bùn thành sen tươi đẹp nhiều,
Chuyển phiền não thành Bồ đề,
Khổ đau thành phúc đề huề an vui …
Đức Phật từng làm vậy rồi,
Và các đệ tử của Ngài noi theo
Cũng phải học gương Ngài nhiều
Và làm theo hạnh Ngài liền mau mau.
Học, thực hành Pháp càng nhiều,
Thì ta càng đạt được nhiều an vui
Học và hành Pháp ít thôi,
Thì không gặt hái an vui cho mình
Không hạnh phúc cho chúng sinh.
Không học Phật pháp, không nhìn biết đâu
Con đường tốt để thực hành.
Do vậy, mỗi ta siêng năng gắng nhiều
Tu học và thực hành thêm
Phật pháp ngon lành để đem về nhiều
Hoa trái an lạc, mỹ miều
Hạnh phúc cho số đông nhiều niềm vui.
Sinh trong thế giới loài người,
Tất Đạt Đa có duyên lành xuất gia,
Giác ngộ tu thành Phật ngay.
Điểm này, thái tử được đây xem là
Con người hướng thượng, hướng lành,
Hướng tới hạnh phúc, cho mình tha nhân.
Bắt đầu từ người bình thường,
Thái tử nỗ lực tập tu, khôn lường
Hướng tới con người phi thường,
Giác ngộ, tỉnh thức, tình thương muôn loài
Sống chánh niệm và vững vàng
Thảnh thơi, tỉnh giác, thực hành chính chuyên
An trú sâu vào định thiền,
Cuối cùng, Ngài trở thành liền chân nhân
Bậc đạo Sư tâm linh này
Hoàn hảo đáng được thế gian tôn thờ
Xinh tốt như là hoa sen,
Rạng ngời như Bắc đẩu trên bầu trời,
Xin quay về nương náu thôi,
Bậc Thầy của nhân thiên[26], người khắp nơi.
Hơn nữa, hoa sen tượng trưng
Tinh khiết, trong sạch, không từng nhiễm ô …
Bùn tượng trưng cho khổ đau,
Phiền não, bất hạnh, nhiễm ô, tham, tà …
Từng bước hướng thượng hướng lành;
Tu tập quá trình lọc thanh cũng là
Chuyển phiền não thành Bồ đề,
Khổ đau thành phúc đề huề an vui …
Chuyển nhiễm ô thành sạch trong.
Nếu ta hiểu và thực hành như đây,
An lạc, hạnh phúc thấm nhuần
Và làm mát dịu thân tâm của mình.
Sen quý nở đài giác ngộ,
Hào quang chiếu rạng mười phương,
Trí tuệ vượt tầm pháp giới,
Từ bi thắm nhuần non sông,
Vừa thấy dung nhan điều ngự,
Trăm ngàn phiền não sạch không,
Hướng về tán dương công đức,
Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng.[27]
Ngữ cảnh đức Phật đản sinh,
Hoa sen được tả ở đây như là
Những ẩn dụ rất đẹp và
Ý nghĩa nhằm báo hiệu cho mọi người
Biết rằng đức Phật Thế Tôn
Thích Ca Mâu Ni là Người sinh ra
Trong đời, lớn lên trong đời,
Và thành tựu trong cuộc đời bằng như
Đem lại an lạc số đông,
Nhưng Ngài không bị đời làm nhiễm ô.
Cuộc đời của Ngài chính là
Bài học giá trị vô cùng quý hay
Để cho các dân tộc này
Trên khắp thế giới học và noi theo.
Hơn nữa, chúng ta biết rằng
Hình ảnh đức Phật chào đời bước đi
7 bước trên 7 hoa sen,
Lời nói khẳng định như trên của Ngài
Các nhà viết sử trình bày
Ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng rất nhiều
Hình ảnh này chỉ được tìm
Thấy trong đạo Phật để nhằm tôn vinh
Con người tỉnh thức, trí minh
Giác ngộ là trên hết nhìn trọng tâm.

4.      Nhìn Phật đản khía cạnh như
Con người tối thắng đại sư trên đời
Tay phải Ngài chỉ lên trời,
Tay trái xuống đất, Phật Đà đản sanh
Và Ngài dõng dạc nói rằng:
“Trên trời dưới đất, chỉ Ta con Người
Giác ngộ, tỉnh thức quý tôn
Chúng sanh có Phật tánh trong mọi loài.[28]
Con người (Mānusa) ở đây chỉ cho
Người tỉnh thức, đức Phật (Buddha) Ngài Thích Ca
Tỉnh thức, giác ngộ vẹn toàn.
Theo tư tưởng đạo Phật, con người là
Tối thắng; ngoài con người ra,
Không có thần linh thay người được đâu.
Theo tư tưởng Bà La môn (Brahmanism)
Hay các tôn giáo khác, trời Phạm thiên (Brahma)
Đấng sáng tạo là tối cao.
Con người tôn giáo bị xem thấp hèn.
Con người vị trí thấp hèn,
Nên họ chỉ biết phục tùng, bề trên
Họ vâng lệnh, và tin theo.
Ví dụ, nếu như bề trên nói rằng
Người nào làm thiện tốt lành
Thì sẽ được lên thiên đàng mãi thôi,
Còn ai làm điều ác rồi
Thì đọa địa ngục mãi trôi không cùng;
Những lời này nói chung chung
Hăm dọa thiếu chánh tư duy, ngữ, nhìn…
Là người học Pháp ngon lành,
Ta phải quán chiếu những lời đúng, sai.
Nếu những lời nói đó sai
Chúng ta loại bỏ đi ngay, hoặc là
Những lời nói đó đúng hay
Chúng ta mạnh dạn duy trì, phát huy,
Áp dụng, thực hành nó ngay
Vào trong đời sống hằng ngày của ta
Để đem lại những lạc an
Và hạnh phúc cho số đông, muôn loài.
Theo quan điểm đạo Phật đây,
Dù bạn làm thiện phước sanh cõi trời,
Nhưng nếu bạn không tu rồi
Và không nỗ lực tập tu phước lành
Để tích lũy thêm điều hay,
Thì bạn sẽ gặp khổ đau như thường;
Hoặc dù làm điều bất lương
Bạn đọa địa ngục, nhưng mà gắng tu
Sám hối chuyển hóa thân tâm,
Phước đức của bạn tăng dần, mai sau,
Sẽ sinh cõi trời, người mau.
Khi phúc đức của bạn tăng trưởng dần,
Bạn phải biết cách vun trồng,
Nuôi dưỡng, phát triển phúc lành bản thân
Bằng cách làm các việc lành,
Giữ chánh niệm, giác, ý tâm tịnh này,
Nếu bạn hiểu làm như vầy,
Phật tánh trong bạn dần dần sáng trưng.
Dĩ nhiên, trong quá trình tu
Thực tập, chuyển hóa thân tâm của mình,
Bạn phải tinh tấn siêng năng
Dõng mãnh trong một thời gian khá dài,
Mới đạt giải thoát an lành.
Nhưng bạn phải nên nhớ rằng tập tu
Hành Pháp vững chãi càng nhiều,
Thì bạn sẽ càng đạt nhiều an vui
Và hạnh phúc cho tự thân,
Và cho tha nhân ngay trong đời này.
Theo cái nhìn đạo Phật đây,
Con người đối Phật giáo như con người
Chuyển hóa chuyển nghiệp rồi
Ở vị trí tối thắng quan trọng này;
Đấng sáng tạo, Phạm thiên đây
Chỉ ở vị trí bình thường mà thôi
Bởi vì con người đủ đầy
Phật tánh, Thượng đế, Phạm thiên tánh rồi
Nếu con người biết tập tu,
Chuyển hóa phiền não thành Bồ đề tâm,
Khổ thành hạnh phúc, vui an,
Hướng về giác ngộ, vững vàng, tự do;
Bấy giờ, Phật tánh con người
Và của vị giác ngộ đều bằng nhau.
Phật giáo thường xem con người
Giác ngộ là tối thắng thôi;
Người giác hướng thượng, hướng lành, vui tươi
Giải thoát đích thực an vui,
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đó mà.
Thực vậy, đạo Phật đề cao
Nhấn mạnh rằng chỉ có con người thôi
Mới có khả năng tập tu
Chuyển nghiệp – và chuyển phàm phu trở thành
Thánh quả, thành Phật, Thánh Tăng ;
Chỉ có con người vững vàng, thảnh thơi
Tỉnh thức, giác ngộ, an vui
Mới có thể đem tình thương hòa bình
Hạnh phúc, an lạc, cho mình
Và cho tha nhân chúng sinh bây giờ
Ngay ở đây trong cuộc đời.
Ngoài con người này ra thôi, không còn
Phạm thiên, đấng thần linh nào
Có thể đảm trách và thay con người.
Để nhấn mạnh, diễn tả như
Con người tối thắng, chúng ta biết rằng
Thành đạo dưới cội Bồ đề,
Đức Phật an trú trong thiền quán luôn
Rằng chưa đúng lúc để cho
Ngài đi thuyết pháp hoằng dương, Pháp mầu.
Lúc đó, sau đã 3 lần
Phạm thiên Sahampati[29] thưa rằng
Xin thỉnh đức Phật Thế Tôn
Để đi thuyết pháp cho hàng chúng sanh,
Đức Phật đồng ý lên đường
Chuyển bánh xe chánh pháp vương trường tồn.
Theo tư tưởng Bà-la-môn (Brahmanism)
Ấn Độ giáo (Hinduism), Phạm thiên xem như là
Đấng tối cao của họ rồi,
Là vua cao nhất của trời chư thiên,
Được tin tưởng triệt để liền
Mặc dù một vị Phạm thiên chỉ là
Do người tưởng tượng mà ra,
Và không ai thấy Phạm thiên chỗ nào.
Tuy nhiên, Kinh Phật giáo rằng,
Đặc biệt là trong Tương Ưng Bộ này,
Tôn Kính, Chương Sáu (VI), phần Hai (II),[30] (Samyutta Nikaya VI.2- Garava Sutta- Reverence)
Có nói rằng Vị Phạm thiên vương này
Đích thân gặp đức Phật ngay
Thỉnh Phật trụ thế ở đời dài lâu
Đem đạo, ánh sáng từ bi,
Tuệ giác, đến cho chúng sinh muôn loài.
Ta thấy có điểm đặc thù
Đã được nhấn mạnh dưới đây như vầy:
a.                 Phật pháp vi diệu thật hay,
Thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian,
Xin hãy đến để thấy ngay,
Đến để hiểu, đến để nghe... lời vàng
b.                            Phật pháp giá trị rất nhiều
Khi đức Phật được Phạm thiên thỉnh mời.
c.                             Tôn kính Phật pháp đề cao,
Con Người tối thắng –Thế Tôn –pháp truyền.
d.                            Thời gian thích hợp đủ duyên
Cho chính đức Phật để đi Pháp hoằng
e.                             Thỉnh và giảng pháp đúng thời,
Đúng đối tượng, và đúng nơi, pháp mầu
Trở nên giá trị, thâm sâu
Pháp thêm uy lực, cho người giảng sư
Phật Pháp thật quá cao siêu,
Cho người nghe pháp thêm nhiều tín tâm.
f.                              Phật Pháp luôn có tinh thần
Tự độ và độ tha nhân rất nhiều.
Thực vậy, pháp thoại được người
Thành tâm thưa gửi giảng sư thỉnh mời,
Được khéo thuyết giảng đúng nơi,
Đúng lúc, đúng đối tượng, rồi thì hay
Pháp thoại và người giảng này
Đều thêm sức mạnh, nhiệm mầu, lực uy,
Giá trị tâm linh rất nhiều;
Ngược lại, pháp thoại không do người mời,
Nói không đúng lúc, đúng nơi,
Và không đúng đối tượng rồi, có khi
Pháp thoại, giảng sư trở nên
Ý nghĩa, giá trị không nhiều, hoặc không.
Phật đản, được trình bày xong,
Con người tối thắng hiểu thông Pháp mầu.
5.      Nhìn vào Phật đản qua từ
Khía cạnh con người bình thường nhân gian
Con người bình thường, phải là
Vây mượn, thành năm uẩn này sau đây
(Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) này
Và được chia làm 2 phần sau đây:
Đó là Danh sắc này (Nāma and rūpa = name and form, or mind and body).[31]
Danh (Nāma) thuộc về tâm bao gồm như sau
Thọ, tưởng, hành, và thức; và
Sắc (Rūpa) thuộc về thân bao gồm như sau
Yếu tố: Địa, thủy, hoả, phong
(Đất là chất cứng, nước là chuyển lưu,
Lửa là nóng, gió chuyển lay)
Danh và sắc, hay thân và tâm đây
Tạm được chia ra như vầy
Cho người học dễ hiểu ngay sau này.
Chứ thật ra, cả hai đây
Chỉ là có một mà thôi, đó là
Con người năm uẩn như vầy.
Yếu tố đất – chất cứng bao gồm như sau
Tóc, lông, móng, răng, thịt, da,
Gân, xương, nội tạng, ruột, và vân vân …
Yếu tố nước – chất lỏng gồm
Chất béo, mật, máu, mủ, đờm, mồi hôi,
Mũi nhầy, nước mắt, tiểu, phân…
Yếu tố lửa – chất nóng gồm như sau
Cơ cấu thân thể tạo ra
Hơi ấm vật lý, tiêu, già hóa…này
Yếu tố gió – chuyển động gồm
Không khí liên quan phổi và thông hơi,
Gió trong bụng, đường ruột… thôi
Danh sắc, tâm thân tương cùng với nhau,
Và không thể tách rời nhau.
Con người bình thường được xem như là
Con người duyên sinh (Pali: paticcasamuppāda) là (ta),
Con người tương thuộc (không ta), hay là
Con người vô ngã (Pali: anattā); nghĩa là
Yếu tố sắc, thọ, tưởng, hành, thức đây
Không tồn tại độc lập, riêng;
Ta và không ta cũng là một thôi,
Con người duyên sinh và cùng
Con người tương thuộc cũng là một thôi,
Và một là tất cả rồi.
Nhìn theo thiền quán Phật gia, con người
Không chấp duyên duy nhứt vào,
Chủ thể tuyệt đối, linh hồn bất thay,
Đấng sáng tạo vĩnh cửu này.
Con người năm uẩn, bình thường, duyên sinh,
Vô ngã đều được gọi là
Con người phàm phu, thánh nhân, vô thường,
Con người này sinh ra đời,
Lớn lên, thành tựu trong đời đều luôn
Phải qua các giai đoạn già,
Bệnh, chết, chuyển biến, nghiệp, và vân vân …
Học sử Phật giáo, biết rằng,
Sau khi ra 4 cửa thành ngoài xa,
Vị thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha)
Và người hầu Sa Nặc (Channa) trông rõ ràng
Các cảnh tượng thật, đó là
Người bệnh, người chết, người già, người tu.
Khi thấy cảnh tượng đó rồi,
Thái tử liền có những dòng suy tư
Quán chiếu đời sống tự thân
Và của con người là như thế này;
Con người, ai cũng trải qua
Giai đoạn sinh, già, bệnh, và chết đi;
Con người, ai cũng tạo ra
Các nghiệp bất thiện, nghiệp lành như nhau;
Con người, ai cũng có là
Phật tính, Phật tâm, pháp thân nhiệm mầu.
Thật vậy, để đem an vui
Đem lại hạnh phúc cho mình, tha nhân
Và trên khắp thế gian này,
Đem lại tình thương, lạc an, hòa bình
Đích thực cho mọi chúng sinh,
Nương vào con người duyên sinh, vô thường.
Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha) luôn
Quyết định tự chọn con đường xuất gia,
Con đường tu tập, thực hành
Con đường hướng thượng, hướng lành, an vui,
Giác ngộ, giải thoát, tự do
Bồ tát quán chiếu hiểu rằng như sau:
Thế nào tôi cũng già nua,
Tôi không thể tránh thoát già nua đây;
Thế nào tôi cũng bệnh này,
Tôi không thể tránh thoát ngay bệnh tình;
Thế nào tôi cũng chết đi,
Tôi không thể tránh thoát ra chết này;
Tất cả gì do nghiệp thân,
Nghiệp khẩu, nghiệp ý tôi làm rồi kia
Tôi không thể nào xa lìa
Tránh khỏi dù là nghiệp lành, ác đây;
Tất cả những nghiệp thiện và
Bất thiện do tôi làm ra; biết rằng
Nghiệp thiện tiếp tục phát huy,
Tôi sẽ phát triển, duy trì, làm thêm;
Nghiệp bất thiện tôi loại trừ,
Cố gắng buông bỏ, chuyển ra nghiệp lành;
Tất cả người thương, người thân,
Hôm nay những gì tôi trân quý này,
Chắc chắn rồi một mai đây
Là tôi sẽ xa lìa và bỏ buông,
Tôi không thể tránh khỏi buông bỏ, lìa.”[32]
Quán chiếu con người bình thường
Như vậy bằng cách học hành xả ly
Buông bỏ chấp thủ, tức thì
Bồ tát quyết chí xuất gia, tu hành,
An trú vững chãi thiền hành.
Cuối cùng, Ngài giác ngộ viên mãn rồi,
Và thành Phật- đức Thế Tôn
Là bậc tỉnh thức vẹn toàn, đem cho
Ánh sáng hòa bình, tình thương
Đích thực đến nhân thế muôn phương trời.
Những điều quán chiếu trên đây
Rất là thiết thực hiện nay mang nhiều
Ý nghĩa chuyển hóa tập tu,
An vui, hạnh phúc, cuộc đời tâm hương.
Là một con người bình thường,
Đệ tử của đức Thế Tôn, như vầy
Khi ta khéo biết tu hành
Và biết chuyển hóa nghiệp bằng cách suy
Quán chiếu, áp dụng, tu trì
Thực hành giáo pháp Thế Tôn an lành
Cuộc sống hằng ngày của mình,
Thì ta hiện tại sống nhiều lạc an,
Tương lai ta rất thanh nhàn;
Ta hiểu Phật pháp thực hành như đây,
Hạnh phúc khả năng thấm nhuần
Và làm mát dịu thân tâm an lành.
6.      Nhìn Phật đản qua con người
Kham nhẫn, trí tuệ, an vui, an lành
Hướng thượng, hướng thiện, hòa bình
Giác ngộ, giải thoát cho mình, tha nhân
Trải qua khổ hạnh 6 năm
Với anh em A Nhã Kiều Trần Như,
Ngài Tất Đạt Đa chỉ ăn
Lá và trái cây trong rừng nuôi thân.
Cuối cùng, xét thấy lối tu
Khổ hạnh ép xác cách này không an
Không lợi ích cho thân tâm,
Ngài đã quyết định rời 5 người này
Năm anh em bạn đồng tu
Và bỏ lối tu ấy bằng cách đây,
Thọ nhận bát cháo sữa này,
Của cô nàng Su-dà-ta (Sujata) cúng dường.
Và Ngài chọn ra con đường,
Con đường Trung Đạo (majjhimāpaṭipadā) trình bày như sau:
Không tham đắm dục lạc hoài,
Không khổ hạnh ép xác tù khổ sai.
Các vị cổ Đức nói rằng:
Có thực mới vực đạo này mới lên.
Nhờ dùng bát cháo sữa trên
Sức khỏe của Ngài trở nên tốt dần.
Sau khi Ngài thọ dụng xong,
Ngài đã đem quăng bát không xuống dòng
Ni Liên Thiền (Neranjara), phát nguyện rằng
Nếu cái bát trôi ngược dòng nước đây,
Thì việc tu tập của Ta
Chắc chắn sẽ đạt đạo thành quả luôn.”
Quả thật, Ngài chọn con đường
Trung đạo để tu tập thường hướng trong
Giác ngộ, giải thoát, cuối cùng,
Ngài thành đạo quả tốt lành đẹp thay.
Như ta biết cái bát này
Ví dụ cụ thể để minh họa là
“Đời sống chánh niệm, lạc an
Giác ngộ, tỉnh thức” của Ngài Đạt Đa (Siddhārtha).
Trôi ngược dòng ý nghĩa là
Ngược lại với trôi xuôi dòng sông này;
Trôi xuôi dòng có nghĩa là
Mọi người sống ở trên đời đều luôn
Phải bị vướng bận gia đình,
Trôi ngược dòng có nghĩa là như sau
Hành giả ở đời, thế nhưng
Không bị vướng bận gia đình, cháu con.
Nước dụ cho tham ái, tình,
Ràng buộc, bận bịu, bám vào vân vân…
Ta ở đây là đại từ
Ngôi thứ nhất “hành giả” như hiểu là
Vậy, trôi ngược dòng sông
Ý nghĩa tổng quát như sau, mọi người
Ở đời sống có gia đình,
Hành giả sống đời sống không gia đình,
Không bị ràng buộc bởi nhiều
Nhà cửa, vợ chồng, gia đình, cháu con,
Sống đời sống nhiều tự do,
Thong dong, tự tại, có nhiều thời gian
Để tu tập và thực hành
Hướng dẫn người khác, đi trên con đường
Hướng thượng, hướng thiện, an vui
Hướng tới hạnh phúc cho số đông này.
Câu trên có thể viết là:
Nếu hành giả an trú luôn vững vàng
Vững chãi trong niệm, định, thiền
Trong tuệ, thì hành giả liền đạt ngay
Chắc chắn gặt hái được nhiều
Hoa trái hạnh phúc, an vui cho mình
Cho số đông khắp hành tinh.”
Điều kiện thứ nhứt, nếu ta thực hành
Áp dụng Phật pháp ngon lành
Vào trong đời sống hằng ngày của ta,
Thì hành giả chắc chắn là
Có thể gặt hái những hoa trái lành
An vui và hạnh phúc ngay
Bây giờ ở đây trong ngay đời này.
Thật vậy, nuôi dưỡng, vun trồng,
Phát triển ý nghĩ, việc làm thiện hay
Lời nói thiện, chắc chắn là
Hành giả sẽ đạt được an vui và
Hạnh phúc cho tự thân ta
Và cho tha nhân ngay trong đời này.
Từ đó, Ngài Tất-đạt-đa
Nhận cỏ Kiết tường (Kusa) của người nông phu
Cúng dường để làm bồ đoàn,
Đi tới Bồ đề đạo tràng, ngồi ngay
Dưới cây Bồ đề Thiền hành,
Và Ngài phát thệ nguyện rằng như sau:
Dù cho thịt nát xương tan,
Nếu chưa thành đạo, không rời chỗ đây.
Nhờ lời nguyện dõng mãnh này,
Cuối cùng, Ngài giác ngộ ngay Phật thành
Vậy, trên lộ trình tu hành,
Hướng thượng, hướng thiện, trước khi Phật thành,
Ngài Tất Đạt Đa (Siddhartha) thực hành
Hạnh kham nhẫn, trí tuệ; Kham nhẫn là
Lối tu hành vững chãi đây;
Trí tuệ là lối tu hành sáng hay.
Nhờ chọn lối tu đúng này,
Ngài khéo vận dụng chánh kham nhẫn này,
Chánh trí tuệ, tri kiến vào
Đời sống tu tập hằng ngày tự thân
Ngài tu để không rơi vào
Các loại lối tu cực đoan như là
Chỉ đứng một chân như cò,
Bò vòng quanh đóng lửa, và phơi thân
Suốt ngày đêm ngoài nắng sương,
Để râu, tóc, móng, và lông thật dài…
Cuối cùng, Ngài đoạn não phiền,
Đoạn tận lậu hoặc, vô minh, trở thành
Một con người tỉnh thức và
Giác ngộ viên mãn dưới cây Bồ đề
Ngay ở Bồ Đề Đạo tràng,
Chính là Ấn Độ ngày nay bây giờ.
Từ lúc đó tới bây giờ,
Đạo Phật không những được truyền bá trong
Khắp nước Ấn Độ, mà còn
Nhiều nước trên thế giới xưa, bây giờ.


7.      Tưới tẩm, nuôi dưỡng, dậy khơi
Đánh thức Phật tánh trong loài chúng sanh.
Trong lịch sử nhân loại này
Phật sơ sinh bất hữu câu nói rằng:
Trên trời dưới đất cái Ta (Atta),
Phật tánh, tức là con người giác thôi
Là tôn kính, quý trọng thôi.
Tất cả chúng sinh có lòng Phật tâm.”
(Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn,
Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh.[33] )
Con người nhấn mạnh ở đây
Là một đại từ chỉ cho Phật Đà,
Chỉ cho con người bình thường,
Không phải là một đấng thần linh đâu.
Vậy, câu nói lịch sử này
Chỉ trong đạo Phật được tìm thấy thôi
Đạo tỉnh thức, ngoài đạo này,
Không được thấy trong đạo nào nữa đâu.
Theo tư tưởng đạo Phật là,
Phật tính trong con người và chúng sinh
Cũng đều bình đẳng như nhau.
Ở thánh Phật tánh không tăng, chút nào
Phật tánh không giảm ở phàm.
Quá trình tu tập, quá trình tự thân
Làm Phật tánh sáng dần ra,
Là quá trình nhận diện ra và là
Chuyển hóa phiền não, vô minh,
Trở thành minh, hạnh phúc và an vui
Bằng cách áp dụng thực hành,
Những lời nói, ý nghĩ, việc làm thiện đây,
Vào trong đời sống hằng ngày,
Đem lại hạnh phúc, an vui cho mình
Và cho tha nhân đời này.
Bằng phương pháp khơi dậy đây như vầy,
Đánh thức, tưới tẩm Phật tâm,
Của tất cả các chúng sanh muôn loài,
Đức Phật quán chiếu, đưa ra
Những ví dụ cụ thể và sinh động là:
Có các chúng sanh có là
Nhiều bụi phiền não trong tâm, như vầy
Ít bụi phiền não trong tâm,
Và không có bụi não phiền trong tâm.
Cũng vậy, có các loại hoa
Sen đỏ, sen trắng, sen xanh, sen hồng,
Đang mọc, lớn trong nước sông,
Vươn ngang mặt nước, vượt ra nước mà
Song qua quá trình mọc và
Sống trong ao nước, các loài hoa sen
Tất cả lần lượt nở hoa
Và đều tươi tốt, đẹp xinh, thắm màu.[34]
Như ở trong Kinh Pháp Hoa,
Phẩm Dược Thảo dụ thứ Năm (V),[35] nói rằng
Đức Phật cũng đã đưa ra
Hình ảnh ẩn dụ của làn mưa kia,
Cây lớn hút nước mưa nhiều,
Cây vừa vừa hút nước mưa vừa vừa,
Cây nhỏ hút ít nước mưa;
Song, quá trình hút nước mưa như vầy,
Tất cả loại cây như đây
Cây lớn, cây vừa, nhỏ đều tốt xanh.
Cũng vậy, có các chúng sanh
Có ít, vừa vừa, hoặc nhiều, trí minh,
Song qua quá trình đủ duyên
Học hỏi, áp dụng, tiếp thu, hành trì
Pháp vào đời sống hằng ngày,
Tất cả các loại chúng sanh đó đều
Thấm nhuần Phật pháp rất nhiều
Dần dần đem lại cho mình lạc an
Cho số đông và nhân dân,
Cho tha nhân tại thế gian ngay này.
8.      Nhìn Phật đản sinh thông qua
Khía cạnh bình đẳng nhân hòa, thế gian
Bình đẳng là Hán Việt âm;
Bình có nghĩa là bình an, hòa bình,
Bằng phẳng, rộng lượng, bao dung, đón chào …;
Tiếp nhận, chấp nhận, đồng đều,
Đón nhận, quảng đại, rất nhiều hòa an,
Đẳng có nghĩa là khác sai,
Sai biệt, khác biệt, không kỳ thị nhau…
Vậy, bình đẳng có nghĩa là
Chấp nhận sự khác nhau mà với tâm
Rộng lượng, không kỳ thị, và bao dung,
Và tâm không chống trái nhau.
Nó không những bao hàm sau như vầy
Những ý nghĩa tình thương này,
Tình huynh đệ, và tình đồng loại luôn,
Đoàn kết, che chở, hợp hòa,
Bảo hộ, tha thứ… Mà còn nói lên
Không kỳ thị, không phân chia,
Chấp nhận sự khác biệt loài chúng sanh.
Ngược với chữ Bình đẳng
Bất bình đẳng có nghĩa là phân chia,
Kỳ thị, phân biệt, bất công
Không nhận sự khác biệt trong muôn loài…
Ta biết đạo Phật có trên
Thế gian này gần ba nghìn năm thôi;
Thời gian trước đạo Phật đây,
Sau đạo Phật, cho tới ngay bây giờ,
Trong xã hội Ấn Độ là
Dân Ấn theo Ấn giáo (Hinduism) hay Bà La Môn (Brahmanism),
Chia 4 giai cấp khác nhau;
Sự phân giai cấp của người Ấn xưa
Đã thấm vào máu họ rồi
Cho nên họ không dễ mà đổi thay;
Tuy nhiên, sự phân chia này
Của người Ấn Độ ngày nay có phần
Thay đổi tư tưởng dần dần,
Cái nhìn ít từ khi dân Ấn này
Có cơ hội mở cửa và
Tiếp xúc thế giới bên ngoài xung quanh.
Theo luật Mã Nỗ (Mānu) sau đây
Của Bà La Môn giáo (Brahmanism), này như sau
Ấn giáo đã được chia làm
Thành 4 giai cấp[36] khác nhau do là




Một đấng Phạm thiên (Brahma) tạo ra:
a.       Giai cấp tu sĩ tế Bà La Môn (Brahman)
b.      Giai cấp Sát Đế Lợi (Ksatriya) này
c.       Giai cấp Phệ Xá (Vaisya) bán buôn, cuối cùng
d.      Giai cấp Thủ Đà La (Sudra) này
Bà La Môn (Brahman) có nghĩa là tịnh thanh
Những người theo giai cấp này
Là những vị đạo Sĩ, sanh ra từ
Miệng Phạm thiên, được xem như
Giai cấp cao của Ấn từ xưa đây.
Thứ nhứt trong xã hội này,
Lo nghi lễ, giao tiếp thần linh, hay
Tế tự, cúng tế lễ, và
Nắm giữ quyền lực thần quyền trong tay.
Sát Đế Lợi (Ksatriya) có nghĩa là
Mạnh mẽ, hùng mạnh, rất gan, hào hùng...
Những người theo giai cấp này
Là những dũng sĩ, chúa vua, quan quyền,
Sanh ra từ vai Phạm thiên,
Trong xã hội được nắm quyền thứ hai,
Lo việc chính trị để mà
Giữ gìn đất nước, dõi dòng chúa vua,
Và chống giặc nội ngoại xâm.
Phệ Xá (Vaisya) đây có nghĩa là bán buôn,
Làm nghề trồng trọt, chăn nuôi...
Người theo giai cấp này như những người
Buôn bán, nông dân, công dân…
Sanh ra từ hông Phạm thiên, và là
Trong xã hội đứng thứ ba,
Chuyên lo những việc bán mua, vun trồng,
Đổi chác, làm rẫy, ruộng vườn…
Tạo ra tài sản, cho hàng cấp trên.
Thủ Đà La (Sudra) có nghĩa là
Thấp kém, hạ tiện, bần cùng, xót xa.
Người theo giai cấp này là
Đầy tớ, tôi tớ, và nô lệ này…
Được sanh ra từ bàn chân Phạm thiên,
Trong xã hội đứng thứ tư,
Rụt rè, sợ sệt, cúi đầu, sợ lo…,
Phục dịch 3 giai cấp trên,
Họ như tôi tớ chủ sai nghe liền.
Nên, bốn giai cấp này kìa
Được luật Mã Nỗ (Mānu) phân chia rõ ràng.
Nhưng ngoài bốn giai cấp ra,
Xã hội Ấn Độ xưa như nay còn
Có những hạng người cùng đinh
Không được liệt kê vào giai cấp này;
Họ là hạng người bần cùng
Không có nhà ở, áo quần che thân,
Họ không có cơm để ăn,
Họ ngủ vỉa hè, lề đường, vân vân…
Ai cho gì thì họ ăn,
Họ dễ bị chết cóng vào mùa đông,
Chết nóng vào mùa hè luôn,
Chết đói vào xuân, hạ, thu, đông này.
Những hạng người cùng đinh (Dalits)[37] này
Không trong bốn giai cấp bàn luận trên.
Vậy, theo Luật Mã Nỗ (Manu), thì
Theo cấp nào sinh hoạt theo cấp này.
Như người theo Bà La Môn (Brahman),
Thì họ chỉ sinh hoạt và giao lưu
Người giai cấp này mà thôi.
Người theo cấp dũng sĩ (Sát Đế Lợi/ Ksatriya), thì giao lưu
Và chỉ sinh hoạt với người
Mà ở cùng giai cấp này mà thôi.
Người theo giai cấp bán buôn (Phệ Xá/ Vaisya),
Thì họ chỉ sinh hoạt và giao lưu
Người cùng giai cấp này thôi.
Người theo giai cấp lao công thấp hèn (Thủ Đà La/ Sudra),
Họ chỉ sinh hoạt, giao lưu
Với người cùng giai cấp này mà thôi.
Họ rất hạn chế như vầy
Trong việc giao tiếp, làm ăn, nhất là
Đặc biệt trong việc hôn nhân
Cưới hỏi ngoài giai cấp là khó khăn.
Khi gặp những người theo hai
Giai cấp Sát Đế Lợi (Ksatriya), Bà La Môn (Brahman)
Và thì những người mà theo
Giai cấp Phệ Xá (Vaisya), Thủ Đà La (Sudra) luôn
Thì phải tránh né khiêm nhường,
Không được tiếp xúc những phường cấp cao.
Những ai không tuân thủ vào
Luật Mã-nỗ này trên đây và thì
Họ sẽ bị trừng phạt kìa
Một cách nghiêm khắc, cực kỳ phân chia.
Do vậy, những người mà theo
Hai giai cấp dưới không thành tài đâu.
Hiếm có cơ hội tiến thân,
Học tập, phấn đấu, như hàng cấp trên.
Lý do đó đưa tới điều
Bất bình đẳng trong nước nhiều, tạo ra
Các cá nhân bất ổn, và
Xã hội xáo trộn, gia đình bất an,
Vì phân chia giai cấp này,
Kỳ thị chủng tộc, màu da, giàu nghèo…
Hơn nữa, họ quan điểm là
Bà La Môn giáo (Brahmanism), cho rằng như sau
Những ai theo Bà La Môn (Brahman),
Thì họ là Bà La Môn suốt đời;
Những ai theo dũng sĩ (Sát Đế Lợi/ Ksatriya) đây,
Giai cấp dũng sĩ suốt đời này luôn;
Ai theo giai cấp bán buôn (Phệ Xá/ Vaisya),
Là người giai cấp bán buôn suốt đời;
Ai theo lao công kém hèn(Thủ Đà La/ Sudra),
Là người giai cấp lao công suốt đời.
Theo quan điểm Phật giáo là
Đạo Phật tôn trọng, đề cao mọi người
Đều có Phật tính như nhau,
Thì không có giai cấp và phân chia
Trong giọt máu cùng đỏ và
Trong một giọt nước mắt cùng mặn đây.
Đạo Phật không chấp nhận là
Quan điểm của Bà La Môn giáo (Brahmanism) này,
Chỉ chấp nhận các nghiệp thân,
Nghiệp khẩu, nghiệp ý họ làm, gây ra
Ở đời trước, ở đời này,
Hoặc làm ở đời sau này mà thôi.
Nếu bạn là người có dòng
Máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn luôn,
Bạn có phúc sinh ra trong
Gia đình giàu có của Bà La Môn
Hay của Sát Đế Lợi này,
Nếu bạn sống trong gia đình ấy đây,
Mà bạn không biết làm lành
Những điều phúc thiện, tịnh thanh, mà còn
Sát sinh hại vật, khinh chê,
Khinh thường người khác, thì ngay đời này
Phúc đức của bạn giảm dần,
Bạn sẽ bị có nhiều người oán than,
Chắc chắn bạn trong tương lai,
Sẽ bị tái sinh gia đình khổ đau.
Ngược lại, nếu bạn là người
Thiếu phúc đức và thiếu may mắn này,
Sinh ra trong một gia đình
Phệ Sá (Vaisya) hay Thủ Đà La (Sudra) khổ nghèo,
Nhưng bạn có được duyên lành
Tiếp xúc ánh sáng Phật Đà Pháp môn,
Bạn nỗ lực tu học luôn,
Phật pháp thật giỏi, bạn đây trở thành
Người đạo đức, gương mẫu ngay
Trong xã hội, và gia đình noi theo.
Dầu sinh gia đình khổ nghèo,
Phương tiện vật chất và tinh thần này
Đối với bạn không dễ dàng
Thành tựu và vươn lên trong đời này,
Nhưng nhờ nỗ lực thân tâm,
Hướng thượng, hướng thiện, làm lành thường luôn
Thì bạn có thể vun trồng
Và tích lũy công đức bằng cách như
Giúp người nghèo khổ, phóng sinh.
Hiện tại, bạn hiểu, thực hành như trên,
Phúc đức bạn tăng trưởng thêm,
Và hạnh phúc cho gia đình, thêm vui,
Tương lai, bạn và gia đình
Sẽ được nhiều người trọng tôn, quý hoài.
Nếu bạn tái sinh làm người,
Bạn sẽ sinh trong gia đình an vui,
Được người kính qúy trong đời,
Hạnh phúc trong Phật pháp, giàu có luôn.
Trong thời đức Phật Thích Ca,
Cách đây đã hơn (2600) hai ngàn sáu trăm,
Những đệ tử của Phật như
Tôn giả luật sư Ưu Ba Li (Upali),[38]
Người thợ hớt tóc, bần cùng;
Tôn giả Sunita (Ni-đề),[39]  người gánh phân,
Đã không được liệt kê vào
Bốn hàng giai cấp trình bày ở trên.
Cuối thế kỷ (18) Mười Tám đây,
Đầu thế kỷ (19) Mười Chín này như sau,
Vị Phật tử người tại gia
Rất nổi tiếng Ambedka,[40] nhưng mà
Người thuộc giai cấp hạ hèn;
Và là tiến sĩ học hành Pháp hay
Cả ba người này đều là
Người Ấn sống cách nhau nghìn năm hơn.
Song cả ba đủ duyên lành,
Học hiểu, áp dụng, thực hành Pháp môn
Giáo pháp của đức Thế Tôn
Vào đời sống hằng ngày, luôn trở thành
Những Phật tử thuần thành,
Khả năng giúp đạo Pháp và nhân dân,
Cho tự thân và tha nhân
Sống vui, hạnh phúc, thế gian đời này.
Thực vậy, đức Phật Thích Ca,
Đạo Phật, Người sáng lập ra, đạo mà
Có khả năng đem lại lành
Bình đẳng, hạnh phúc, an vui, hòa bình,
Ánh sáng giác ngộ, từ bi,
Và trí huệ không những cho hết toàn
Xã hội Ấn Độ, mà còn
Cho cả thế giới nhân loài ngày nay.
Theo cái nhìn bình đẳng này
Của đạo tỉnh thức, Phật môn như vầy
Đạo Phật đã không bao giờ
Phân chia giai cấp và không bao giờ
Chấp nhận rằng những người theo
Giai cấp Bà La Môn là thông minh
Và thanh tịnh hoàn toàn luôn;
Người theo giai cấp Thủ Đà La (Sudra) đây
Ngu dốt, ô uế hoàn toàn.
Thông minh hay không thông minh, cũng vầy
Thanh tịnh hay không tịnh thanh,
Giai cấp, không giai cấp đều bởi do
Các hành động bất thiện và
Thiện của mình tạo tác ra hình thành.
Tự mình điều ác làm,
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình ác không làm,
Tự mình làm thanh tịnh,
Thanh tịnh không thanh tịnh
Điều do tự chính mình
Không ai thanh tịnh ai.
(Pháp Cú, kệ 165)
Sở dĩ các giai cấp này
Đã được phân chia là vì như sau
Bà La Môn giáo muốn rằng
Thống trị thiên hạ, muốn cho mọi người
Coi mình là trên hết thôi,
Bắt buộc mọi người phải tuân thủ mình.
Nếu ai không chịu làm theo
Luật Mã-nỗ (Manu) thì bị trừng phạt ngay
Ngược lại, đạo Phật hoàn toàn
Không đồng ý quan điểm trên như vầy.
Để chứng minh rằng tinh thần
Trong đạo Phật bình đẳng và như nhau,
Kinh Phật Tự Thuyết (Udàna), chương Năm (V),
Trong phẩm Trưởng Lão Sona thuộc vào
Tiểu Bộ Kinh (Khuddhaka Nikàya) ghi rõ rằng:
“…Ví như khi các sông Hằng sau đây,
Các con sông đó tên là
Sông Yamunà, sông Sarabhù,
Sông Aciracati,
Và sông Mahi chảy về biển khơi,
Chúng bỏ tên họ trước luôn,
Sau này chúng sẽ trở thành như đây
 Biển lớn nước mặn như nhau.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo! Nhớ rằng
Có những hạng người thuộc trong
Bốn giai cấp Bà La Môn (Brahman), hoặc là
Sát Đế Lợi (Ksatriya), Phệ Xá (Vaisya), và
Thủ Đà La (Sudra); Sau khi từ bỏ luôn
Gia đình, sống không gia đình,
Đã xuất gia trong Pháp và Luật đây
Thế Tôn tuyên bố sau này,
Chúng từ bỏ tên họ ngày trước đây,
Và chúng ngày sau trở thành
Những đệ tử đức Thế Tôn nhiệm mầu.[41]
Qua đoạn trích dẫn trên đây,
Ta thấy rằng giáo pháp Ngài Thế Tôn
Và trong đời sống hằng ngày
Không có giai cấp của Tăng đoàn này;
Tinh thần bình đẳng điểm này,
Trong đạo Phật đã hiện ra rõ ràng.
Thật vậy, dù bạn đã mang
Hàng trăm tộc họ khác nhau như vầy,
Dù các bạn là những người
Da trắng, da đỏ, da vàng, da đen,
Dù các bạn là những người
Không có cùng giai cấp, tôn giáo này,
Nhưng khi có đủ duyên lành
Bạn được tu học, thực hành Pháp môn
Giáo pháp của đức Thế Tôn,
Các bạn đều trở thành con của Ngài,
Đều nếm được pháp lạc hay,
Tiến đến giải thoát, an nhàn như nhau.
Chúng ta đều được biết rằng
Ngược dòng thời gian cách đây hơn nhiều
(26) Hai mươi sáu thế kỷ đi,
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhiệm mầu
Đạo Phật, Người sáng lập ra,
Đạo tỉnh thức, giác ngộ, đem an lành,
Hạnh phúc, và bình đẳng cho
Mọi giai cấp, và mọi người bằng nhau.
Giáo pháp của đức Phật là
Giáo pháp bình đẳng, không hề phân chia;
Đức Phật là bậc cao siêu
Bậc Thầy, Vua bình đẳng, và tôn nghiêm;
Sự phân biệt và phân chia
Giai cấp, thì không bao giờ thấy trong
Lời dạy của Thầy Thế Tôn.
Bởi vì Thầy nhấn mạnh rằng như sau:
M ọi người bình đẳng như nhau,
Thì không có giai cấp và phân chia
Trong giọt máu cùng đỏ và
Trong một giọt nước mắt cùng mặn đây.
Những ai có đủ duyên lành
Áp dụng Phật pháp, thực hành Pháp môn
Vào trong đời sống hằng ngày
Một cách chánh niệm, vững vàng, thảnh thơi,
Thì họ đều thưởng thức và
Nếm được pháp lạc như nhau ngay liền.
Thực vậy, mọi người sinh ra
Trên hành tinh này, thì ai cũng đều
Trong giọt máu cùng đỏ tươi
Trong một giọt nước mắt cùng mặn đây.
Và ai cũng sợ gươm đao,
Ham sống, sợ chết, và ai cũng đều
Muốn có đời sống an vui
Cho mình, tha nhân ngay đời thế gian.[42]
Với nghĩa thiết thực nêu trên,
Chúng ta biết trong Tăng đoàn Thế Tôn,
Và trong giáo pháp của Ngài
Thì không có giai cấp và phân chia
Trong tinh thần bình đẳng kia
Của đạo Đức Phật thì không bao giờ
Có kỳ thị chủng tộc và
Không có giai cấp nhất là phân chia
Hễ những ai có đủ duyên
Tu tập, thực hành những lời Thế Tôn,
Luôn nhớ làm các việc lành,
Không làm điều ác, giữ gìn thân tâm
Được thanh tịnh và lạc an,
Sống đời chánh niệm, an nhàn, thảnh thơi
Trong đời sống hằng ngày rồi,
Thì họ sẽ là những người khả năng
Đem lại hoa trái an vui
Cho số đông trên khắp hành tinh đây.
Để hiểu rõ, xác nhận này
Những điều thảo luận trên đây như vầy,
Học lịch sử Phật giáo đây,
Trong đạo Phật ta biết nhiều người như
Giai cấp, tôn giáo khác nhau,
Trước khi là một người cư sĩ này,
Tôn giả Ni Đề (Sunita) chính là
Người hốt phân không thuộc hàng cấp trên;
Tôn giả Ưu ba li (Upali) là
Thợ hớt tóc giai cấp hàng thứ tư (Sudra);
Tôn giả Thuần Đà (Chunda) là người
Thợ rèn giai cấp thứ ba (Vaisya);
Tôn giả A Nan Đa (Ananda) là người trong
Giai cấp dũng sĩ (Ksatriya) thứ hai;
Tôn giả Xá lợi Phất (Sariputta) và Mục Liên (Mahà Moggallàna)
Là những người Bà-la-môn (Brahman);
Tôn giả Vô Não (Angulimala) là tên cướp này;
Am Ba Ba Li (Ambapàli) giang hồ…
Song qua quá trình hành trì như sau
Tiếp xúc, học hỏi, thực hành
Phật pháp, chư vị trở thành an vui
Những người đệ tử phước đầy
Đích thực của đức Thế Tôn muôn đời.
Cũng vậy, các loại nước trong,
Nước sạch, ngọt, lợ, nước dơ, nước bùn …
Của trăm ngàn sông, suối, hồ…
Chảy ra biển cả trở thành mặn luôn.
Như tất cả các hạng người
Ở nhiều giai cấp, loại người khác nhau,
Song họ có đủ duyên lành
Theo Phật, nghe pháp, thực hành Phật môn,
Họ khả năng thưởng thức luôn
Nếm được pháp lạc ngay trong đời này,
Và sống đời sống an vui
Giải thoát đích thực cho mình, tha nhân.
Tinh thần bình đẳng của Ngài
Đã được thấm nhuần và qua các thời
Triều đại vua chúa khác nhau,
Dòng dõi, thế hệ, được truyền bá đi
Không những ở Ấn Độ thôi,
Mà còn ở nước khác nhau như là
Nhật Bản, Lào, Thái, Việt Nam,
Úc, Pháp, Đức, Mỹ, Nga, cùng Triều Tiên,
Tinh thần đó thiết thực và
Đã vượt thoát thời gian, và không gian.
Tinh thần bình đẳng trên đây,
Đã được trình bày xong; nay tiếp là,




9.      Nhìn Phật đản sinh thông qua
Khía cạnh hòa bình, nhà nhà an vui.
Tiếp theo là phần số 2
Vừa được thảo luận ở trên như vầy,
Phần số 9 được trình bày
Thấy cái nhìn Phật đản thông qua này
Các khía cạnh ẩn dụ đây,
Huyền thoại, nhấn mạnh ngay vào trọng tâm…,
Đặc biệt qua khía cạnh là
Hòa bình bằng cách thực hành, tập tu
Giáo pháp của đức Thế Tôn.
Con số 7, số 9 trong đạo này
Được đề cập, nhấn mạnh nhiều;
Trong bài này, người viết bàn luận như
Chỉ hai khía cạnh đặc thù
Liên quan tới hai số này mà thôi,
thời gian và không gian.
Con số 7 khía cạnh thời gian đây,
Gồm có quá khứ hôm qua (1),
Hiện tại ngày nay (2), vị laimai này (3).
Còn về khía cạnh không gian,
Con số 7 gồm có phương như vầy:
Phương Đông (4), Phương Tây (5), phương Nam (6),
Phương Bắc (7), con số 9 gồm hai phương,
Là phương Trên (8), phương Dưới (9) luôn.
Phương Trên chỉ cho thời gian đó mà,
Phương Dưới không gian; Phương Trên
Hướng thượng, hướng tới việc tu học này,
Giác ngộ, chuyển hóa não phiền,
Giải thoát làm lợi ích nhiều tự thân;
Phương Dưới thì có nghĩa là
Hướng tới việc hoằng pháp làm và đem
Lợi ích cho tha nhân đây
(Trên thỉnh cầu Phật pháp là học tu,
Còn dưới hóa độ chúng sanh).
Về thời gian, quá khứ-ngày hôm qua
Hiện tại nghĩa là ngày nay
Vị lai, tức là ngày mai đó mà;
Về khía cạnh không gian này,
Con số 9 gồm có phương như vầy:
Phương Đông, Phương Tây, phương Nam,
Phương Bắc, phương Dưới, phương Trên, như là,
Hay ở Châu Á, Châu Âu,
Châu Úc, Châu Mỹ, và Châu Phi này,
Đạo Phật truyền bá nơi nào,
Nơi đó dân địa phương hiền lành ra
Và nếu mọi người cùng nhau
Học, hiểu, áp dụng, thực hành Pháp môn,
Vào trong đời sống hàng ngày.
Xưa và nay, đạo Phật không bao giờ
Chiến tranh tôn giáo bởi vì
Giáo pháp của đức Thế Tôn chính là
Giáo pháp tỉnh thức, lạc an,
Giác ngộ, trí tuệ, hòa bình, từ bi,
Và không bao giờ chứa dung
Hận thù, tham, sân, si, bi khổ, phiền...
Giáo pháp này không bao giờ
Bảo người giết, thấy người làm giết vui.
Ngược lại, giáo pháp khuyên người
Làm lành, thấy người khác làm lành vui.
Theo trong pháp học, pháp hành,
Pháp hiểu, pháp thí, pháp an lạc này;
Đây là những điểm đặc thù
Của Phật giáo mà các tôn giáo này
Thì bạn hiếm thấy hoặc là
Bạn không được tìm thấy như trên vầy.
Qua các ý nghĩa được mà
Đề cập ở trên, chúng ta biết rằng
Đạo Phật ở đây chính là
Con đường, tôn giáo hòa bình, luôn luôn
Dạy ta ý thức thực hành
Lời nói, ý nghĩ, hành vi hòa bình,
Và ở khắp chốn khắp nơi
Đem hạnh phúc thực cho mình, tha nhân
Ở ngay trong cuộc đời này,
Cho các chúng sanh khắp ngay ta bà.
Thực vậy, dù bạn có là
Phật tử, không Phật tử, và như đây
Dù bạn theo đạo Phật hay
Không theo đạo Phật, nếu mà bạn luôn
Khéo ứng dụng và thực hành
Lời dạy hòa bình của Ngài Thế Tôn
Vào trong đời sống hằng ngày
Bằng cách ý thức trọng tôn, qúy và
Bảo vệ sự sống mọi loài,
Nuôi dưỡng tâm từ cho hàng chúng sanh,
Khởi tâm bố thí, giúp luôn
Cả vật chất lẫn tinh thần số đông,
Tôn trọng và bảo vệ luôn
Hạnh phúc cho gia đình mình, người kia
Nói điều lợi ích cho người
Bảo vệ thân tâm trí minh, an lành
Khi hiểu, thực hành như vầy,
Bạn là hành giả hòa bình, cũng như
Bạn là sứ giả hòa bình
Hiến tặng món quà hành trì, an vui,
Tu tập và hạnh phúc cho
Số đông trên khắp hành tinh đây này.
Hơn nữa, dù bạn có theo
Phật giáo Nam, Bắc, Mật tông, Tịnh, Thiền;
Bạn vẫn sống thật an bình
Trong cuộc sống, tu tập, thêm hành trì
Pháp môn và đúng hướng đi
Tu tập thích hợp mà khi chọn rồi.
Tuy nhiên, các vị như là
Xuất sĩ, và cư sĩ đều kính tôn,
Và xem Phật, Pháp, Tăng là
Những nơi nương tựa tâm linh an bình
Vững chãi nhất của đời mình.
Xưa như nay, đạo Phật không bao giờ
Gây ra một chiến tranh nào,
Luôn luôn tôn trọng tinh thần bất tranh
Xây dựng tinh thần từ bi,
Vô tham, trí tuệ, hòa bình, tình thương,
Cho cả pháp giới chúng sanh
Điều tỉnh thức thứ nhất nhằm đề cao
Tôn trọng tình thương hòa bình
Sự sống hòa bình cho mình, tha nhân
Khuyên dạy mọi người chớ nên
Giết, chớ bảo người giết, và cũng như
Chớ thấy người giết vui theo.
Trong đạo Phật điểm đặc thù thấy thôi
Khó thấy trong tôn giáo kia.
Số 7, số 9 chứa hàm nghĩa trên;
Xin mời tìm hiểu nghĩa rồng;
Rồng là con vật tượng trưng, đó mà.
Để nhấn mạnh sự ra đời
Đức Phật một cách linh thiêng, nhiệm mầu,



Người ta đề cập tới rồng;
Rồng khác với rắn; rắn là loài như
Bò sát không chân, không mồng,
Không vẩy, không thể bay, phun lửa này.
Theo hình ảnh ta thấy đây,
Rồng là con vật có chân, có mồng,
Có vẩy, phun lửa và bay;
Phật ra đời, ngữ cảnh này, như sau:
Địa cầu chuyển động,[43] rung rung
Trăm hoa đua nở, rồng phun nước từ
Không phun lửa –tham, sân, si…
Nước từ bi bắt nguồn từ việc như
Là tu tập và hành trì
Giới, định, tuệ của chúng ta hằng ngày,
Có khả năng dập tắt ngay
Lửa tham, sân, si, mạn, nghi, ác này …
Phun nghĩa khác với mưa đây;
Động từ phun dùng tả vầy như sau
Tưới tẩm, và sự thấm nhuần,
Và sự mát dịu thân tâm qua nhiều
Khía cạnh, gốc độ khác nhau,
Đặc biệt khía cạnh tu hành, độ sanh
Giác ngộ, giải thoát, hoằng dương,
Của đạo Phật, đức Phật, và cũng như
Đệ tử của đức Phật thì
Đối với chúng sanh trên hành tinh đây;
Nước trong từ phun nước
Danh từ tân ngữ cho từ phun đây;
Phun cái gì, phun nước này;
Nước gồm có hydrô (hydrogen) và oxy (oxygen),
Ở ngay trong ngữ cảnh này,
Và nước không có nghĩa là nước mưa,
Nước sông, nước suối, nước hồ,
Mà là nước từ bi và tình thương.
Song hành với trí tuệ này,
Nước từ bi chứa đủ đầy thương yêu
Hiểu biết, an lạc, hòa bình,
Khả năng dập lửa tham, sân, si này,
Do con người tạo tác ra.
Thế giới ngày nay đang thiêu đốt, và
Chiến tranh, lũ lụt, thiên tai…
Do tâm tham, sân, si, tà kiến… đây
Mà của con người tạo ra;
Nước từ bi xuất phát từ thân tâm
Tu tập, mát mẻ, lạc an,
Qua việc ứng dụng và năng hành trì
Phật pháp trong đời hằng ngày.
Thế giới hòa bình, chúng sanh an nhàn,
Gia đình hạnh phúc, lạc an
Xã hội thanh bình, cũng đều là do
Bắt đầu từ thân làm lành,
Ý nghĩ thiện, và lời thiện luôn;
Nếu ta hiểu, thực tập luôn,
Thì nước từ bi khả năng thấm nhuần,
Tưới tẩm mát dịu thân tâm.
Như vậy, chúng ta thấy rằng như sau
1/ Tư tưởng nuôi dưỡng từ bi
Tư tưởng giáo dục hòa bình ngay trong
Đạo Phật bắt nguồn từ khi
Ngài Tất Đạt Đa còn nằm trong thai,[44]
2/ Từ xưa cho tới ngày nay,
Đạo Phật là đạo hòa bình dành cho
Những ai tu tập, hành trì,
Ứng dụng Phật pháp vào trong đời mình
Cuộc sống hằng ngày của mình
Để đem lại an lạc nhiều
Cho số đông ngay trong đời hiện nay.
Khi Phật hài nhi đản sinh,
Không những phạm thiên, chư thiên, loài người,
Mà còn môi trường thiên nhiên,
Các loài vật, thực vật đều hân hoan
Mừng chào đón sự ra đời
Kỳ diệu của Ngài như chim hót mừng,
Trăm hoa đua nở tưng bừng,
Đặc biệt không sát hại loài chúng sinh.
Mặc khác, nhìn vào giáng sinh
Của các nhà sáng lập tôn giáo ngoài,
Ngay trong đời sống hàng ngày
Hàng năm, mỗi khi tới ngày giáng sinh
Hay sinh nhật tôn giáo này,
Ta biết có không ít loài chúng sinh
Đã bị sát hại rất nhiều
Để tế và làm thịt ăn tiệc mừng.
Đối với Phật giáo nói chung,
Nhìn toàn cảnh Phật đản sinh, kể từ
Ngay khi đức Phật ra đời,
Trụ thế trên cõi Ta Bà này đây
Trong suốt (80) tám mươi năm trường,
Ngay cả sau khi Thế Tôn Niết bàn.
Và cho tới ngày hôm nay,
Hễ tới mùa Phật đản và Vu Lan,
Những mùa lễ hội khác đây,
Đức Phật và đệ tử Ngài từ xưa
Không bao giờ giết, sát sanh
Và không bao giờ mà khuyên bảo người
Giết hại sinh vật để ăn,
Hoặc để làm thịt, tế thần mừng ăn.
Trong các mùa lễ hội này
Thì các vị đệ tử Ngài luôn luôn
Không sát chúng sinh mọi loài;
Ngược lại, họ phát thiện tâm, làm lành
Đó là phước đức sau đây:
Bằng cách niệm Phật, ăn chay, ngồi thiền,
Bố thí người nghèo, phóng sinh...
Những việc làm này nhiệt tình từ bi
Trí tuệ theo đúng tinh thần
Tự giải thoát, ngộ, tự tu, độ mình,
Chúng ta hiểu và thực hành
Được Phật pháp như vậy, thì càng tăng
Phúc đức, tuổi thọ của ta.
Các loài chúng sinh luôn đều an vui
Bởi vì ta khéo biết luôn
Ứng dụng giáo lý từ bi, trí này
Của đạo Phật trí tuệ đây
Vào trong cuộc sống hàng ngày của ta.
Qua những gì thảo luận trên,
Hòa bình đạo Phật bắt nguồn từ trong
Trứng nước, tức là thai nhi (giáo dục thai nhi),[45]
Đặc biệt trong các nghĩ suy, những lời
Nói năng, việc làm thiện lành
Của ta trong đời sống hàng ngày đây.
Là người tiếp nối kế thừa
Ánh sáng chánh pháp, đại thừa tâm Kinh
Ta có trách nhiệm hết mình
Phát huy và nuôi dưỡng tinh thần này
Như là giáo dục hòa bình
Tinh thần bất bạo động thiêng liêng này
Để đem lại an lạc đây
Đem lại hạnh phúc cho ngay nhiều người.
Học, hiểu rõ Phật pháp rồi,
Ta biết đức Phật vị Vua hòa bình,
Là vị Sứ giả hòa bình,
Là vị đạo Sư tâm linh hòa bình,
Hành Giả đích thực hòa bình.
Do vậy, đạo Phật được liền mệnh danh
Là đạo tỉnh thức, hòa bình,
Đạo của trí tuệ, và tình thương yêu;
Ngay cả các bước chân đi
Của đức Phật, đệ tử Ngài là luôn
Các bước chân của hòa bình,
Tỉnh thức, lạc an, khắp hành tinh đây.
Nhìn suốt cuộc đời của Ngài,
Tức là đức Phật sinh ra trên đời
Bên dưới nhành cây Vô Ưu
Ở trong vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini), đó mà
Thành đạo dưới cây Bồ Đề (Bodhi tree)
Ngay tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) linh thiêng,
Ngài nói bài Pháp đầu tiên
Tứ Diệu Đế ở vườn Nai (Sarnath) 5 người
Anh em Ông Kiều Trần Như,
Ngài nhập niết bàn tại rừng Sa La (Sala)
Ở tại thành Câu Thi La (Kusinagar)
Dưới 2 cây song thọ Ngài ra đi
Tất cả nơi đó đều là
Môi trường thiên nhiên, hiền hòa từ bi
Cũng là môi trường hòa bình,
Môi trường tu tập, thực hành đạo đây
Được Phật và đệ tử Ngài
Luôn sống bảo vệ môi trường thiên nhiên
Rất chu đáo và rất hiền
Kinh Pháp Cú, kệ (98) chín mươi tám ghi:
Hoặc trong làng mạc hoặc trong núi rừng,
Hoặc trong thung lũng hoặc trên đồi cao,
Bất cứ nơi nào A La Hán trú,
Nơi đó vô vàn vui sướng biết bao.[46]
Dựa vào môi trường thiên nhiên,
Đức Phật và đệ tử Ngài luyện tu
Và đi giáo hóa chúng sanh
Để mà đem lại hòa bình, lạc an,
Hạnh phúc đích thực số đông.
Trong (45) bốn mươi lăm năm hoằng dương đây,
Ngài đã hóa độ rất nhiều
Hạng người giàu, nghèo, Vua quan, quần thần,
Giặc cướp, kỉ nữ, khác nhau…
Những người nào có đủ duyên thực hành
Học pháp, hiểu pháp, hoằng dương,
Hộ pháp, nếm pháp lạc, thì họ luôn
Đều trở thành người lạc an,
Hạnh phúc, hiền, và thiện ra hơn nhiều.
Như trong cuộc sống thường ngày,
Phật không những đề cao và trọng tôn,
Sự sống của những con người,
Mà còn đời sống con sâu, côn trùng
Con vật, cỏ, cây, núi, rừng,
Thậm chí vi trùng ở trong nước này…
Tinh thần thực tập từ bi,
Trí tuệ, chánh niệm, trong từng nghĩ suy,
Tỉnh giác cử chỉ nói năng,
Và những hành động của Ngài, khi đi,
Khi uống nước, đứng, nằm, ngồi,
Ngài và đệ tử của Ngài luôn luôn
Giữ thân tâm chánh niệm và
Tỉnh giác cho tự thân và tha nhân.
Do vậy, từ các việc làm
Tỉnh thức, chánh niệm quý Ngài đều luôn
Khả năng nuôi dưỡng tinh thần
Tình huynh đệ, tình tương thân, hòa bình,
Tình tương kính, tình thương yêu,
Và tình nhân loại…cho nhiều người luôn.
Như vậy, hòa bình trên đây,
Đề cập trong đời sống tu tập, và
Trong ẩn dụ, nhấn mạnh, và
Trong giáo pháp, trong việc hoằng pháp đây
Của Phật và đệ tử Ngài;
Hòa bình được trình bày trong lời Ngài,
Cái thấy, suy nghĩ, nói lời,
Hành động, kiếm ăn, siêng năng hòa bình,
Nhớ nghĩ, tập trung hòa bình.
Đây là lời Phật dạy răn nói về
Hòa bình, hạnh phúc số đông
Muôn loài trên khắp hành tinh đây này.
Những ai thực tập như vầy,
An trú thấm nhuần lời hòa bình đây
Một cách chánh niệm, dần dần,
Đều đặn và tỉnh giác thì họ luôn
Là hành giả đích thực này
Khả năng đem đạo Phật về tương lai
Một cách tươi sáng, vững vàng.
Hòa bình trong giáo pháp Ngài hiện nay,
Và là vượt thoát thời gian,
Các bạn đến để thấy, nghe, thực hành
Để hiểu biết Phật pháp này
Trong từng hơi thở, thực hành, nghĩ suy.
Việc làm chánh niệm của mình,
Đến để góp phần đem nhiều lạc an
Hạnh phúc cho mình, tha nhân
Ngay bây giờ, ở đây trong đời này.
Với ý nghĩa thiết thực đây
Được trình bày ở trên, và chúng ta
Khẳng định và tự hào rằng
Ngày nay đạo Phật được người tôn vinh
Là một tôn giáo hòa bình,
Con đường hòa bình vạch ra nhiều đường
Hướng đi an lạc, vui tươi
Trong sáng cho thời đại nơi ta bà.
Tóm lại, qua những gì mà
Đã được Thảo luận ở trên, như vầy
Thì từ ngay cái nhìn này
Thứ nhứt cho đến cái nhìn chín đây,
Nguời viết chia ra như vầy
Là để người đọc hiểu ngay nghĩa này
Người học dễ hiểu, thực hành,
Dễ áp dụng Phật pháp vào trong luôn
Đời sống tu tập hằng ngày.
Chín cái nhìn cơ bản này như đây
Được đề cập ở trên đều
Có các mối tương duyên và tương quan
Với nhau mật thiết nhiều qua
Phương diện, khía cạnh, khác nhau hình thành
Đức Phật lịch sử, như là
Đạo Phật, giáo pháp công bình cũng như
Tôn giáo bình đẳng, và như
Đạo Phật, tôn giáo, pháp môn hòa bình,
Con đường, hành giả hòa bình…
Chín cái nhìn này thì đều khả năng
Giúp ta cái nhìn chánh chân,
Cái thấy, tư duy, nói lời chánh chân
Cái biết chân chánh về Ngài …
Về đạo Phật, các đệ tử Ngài, pháp môn,
Pháp Phật, pháp học, pháp tu,
Pháp lạc, pháp chứng, pháp hành này luôn.
Hiểu và thực hành như vầy,
Ta dũng mãnh phát nguyện này như sau
Học, hiểu, hành, nếm pháp, và
Hoằng pháp, hộ pháp vững vàng, thảnh thơi,
Được hạnh phúc và an vui
Ngay bây giờ, ở đây trong hiện đời.
Từ đây, chúng ta chính là
Món quà tu tập, an vui, hòa bình,
Hạnh phúc đích thực cho mình
Cho tha nhân tại thế gian ngay này.
Kính chúc quý vị như đây
An trú vững chãi, thấm nhuần pháp môn
Giáo pháp của đức Thế Tôn,
Cùng nhau hoằng Pháp muôn loài chúng sinh!

By Thích Trừng Sỹ

    Xem Trường Bộ - Kinh Đại Bổn 14, Phẩm III – 22 - 23 (Dìgha Nikàya - Mahàpadàna sutta 14, Part 22 - 23).

[3]  Pháp Cú, kệ 49.



    Xem Kinh Trường Bộ (Dìgha Nikàya) – 14 Kinh Đại Bổn (Mahàpadàna Sutta), Phẩm I – 18, 19, 20…
    Xem D. 14. I.

[7]  Như trên.


[10]  Xem http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-76_4-3897_5-50_6-1_17-50_14-1_15-1/   Xem Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammcakkappavattana Sutta).


     Xem Kinh Trường A Hàm, Phần I – 1. Kinh Đại Bản Duyên 4c  
     Xem Kinh Trường Bộ (Dìgha Nikàya) – 14 Kinh Đại Bổn (Mahàpadàna Sutta), Phẩm I – 17, 18, 19…
     Xem Dìgha Nikàya - Mahàpadàna sutta / Trường Bộ - Đại Bổn Kinh số 14.

     Xem Kinh Trường Bộ (Dìgha Nikàya) – 14 Kinh Đại Bổn (Mahàpadàna Sutta), Phẩm I - 29   
[16]  Xem http://www.quangduc.com/DucPhat/82sutichducphat01.html#_ftnref7

[18]  Tương Ương Bộ (Samyutta Nikaya, V – 420), Kinh Chuyển Pháp Luân[1] (Dhammacakkappavattana Sutta) – Bài Pháp đầu tiên
     mà đức Phật thuyết giảng cho 5 anh em Trưởng lão A Nhã Kiều Trần Như (Aññakoṇḍañña) tại Vườn Lộc Uyển – Sarnath, Ấn Độ.

[19]   Xem http://quangduc.com/kinhdien/223truongaham01.html   / hoặc xem Trường A Hàm – Sơ Đại Bản Duyên Kinh


     Xem Kinh Trường Bộ (Dìgha Nikàya) – 14 Kinh Đại Bổn (Mahàpadàna Sutta), Phẩm I - 27
     Xem D. 14, I. 27. 

[22]   Xem Pháp Môn Tịnh Hạnh - Phẩm Thuỵ Ứng của Kinh Ưu Bà Di


[24]   Xem http://www.quangduc.com/DucPhat/82sutichducphat01.html#_ftn8       Hoặc xem Trường A Hàm – Sơ Đại Bản Duyên Kinh


[26]   Như trên.

     Xem Kinh Trường A Hàm, Phần I – 1. Kinh Đại Bản Duyên 4c  
     Xem Kinh Trường Bộ (Dìgha Nikàya) – 14 Kinh Đại Bổn (Mahàpadàna Sutta), Phẩm I - 29
     Xem D. 14 I. 29



[31]  Xem Anguttara Nikaya III. 71     http://www.buddhanet.net/budsas/ebud/budtch/budteach06.htm#_ednref17     → Anattalakkhana Sutta – Kinh Vô Ngã tướng. Or xem Mahāvagga, p. 13; Samyutta Nikāya pt. iii, p. 66. 
           
[32]  Xem Kinh Trường A Hàm, Phần I – 1. Kinh Đại Bản Duyên 4c  
     Xem Kinh Trường Bộ (Dìgha Nikàya) – 14 Kinh Đại Bổn (Mahàpadàna Sutta), Phẩm I - 29
     Xem D. 14 I. 29.

     Xem Trường Bộ - Kinh Đại Bổn 14, Phẩm III – 22, 23, 24… (Dìgha Nikàya - Mahàpadàna sutta 14, Part 22, 23, 24, etc.).
     Xem Trung Bộ - Kinh Thánh Cầu 26 (Majhima Nikàya – Ariyapariyesanà Sutta 26)

[35]  Xem http://www.quangduc.com/kinhdien/240phaphoahn3.html#PH%E1%BA%A8M%20TH%E1%BB%A8%20N%C4%82M

[36]  Xem Textual Sources for the Studies of Hinduism, Wendy Doniger O’Flaherty dịch, Manchester: Manchester University Press, 1988, tr. 28. Trong Rg-Veda, hệ thống đẳng cấp bốn bậc này chỉ được đề cập một lần duy nhất; và đoạn kinh văn này được cho là được bổ sung về sau. Xem http://www.hoavouu.com/D_1-2_2-86_4-17687_15-2/

[37]  Xem S. Radhakrishnan. Indian Philosophy., Vol. I, Oxford University Press, 2008, trang 111 – 3.
[
http://www.buddhanet.net/e-learning/history/db_06s.htm
[39]  Xem http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/thien-tap/duong-xua-may-trang/chuong-43-mau-ai-cung-do-nuoc-mat-ai-cung-man?set_language=vi                                      http://chandawimala.blogspot.com/2010/09/buddhist-pantings-life-of-buddha.html


[42]   Xem Tăng Nhất A Hàm – Tám Pháp → 42. Phẩm Tám Nạn → Kinh Số 5 
[45]   Xem http://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoa/xuan/3976-Nhin-Xuan-Qua-Con-Mat-Thien-Quan.html

[46]  Xem phần số hai được trình bày ở trên



PhapNhanTemple's Activities



6/2/2017: "Video Thầy Trừng Sỹ Giảng tại Từ Bi Đạo Tràng Temple June-03-2017 Video Dharma Talk at Từ Bi Đạo Tràng Temple June-03-2017
6/2/2017: "Video Lễ Phật Đản at Pháp Mhãn Temple May-28-2017 Video of Vesak Ceremony at Pháp Mhãn Temple on Sunday May 28 /2017
6/2/2017: "Hình ảnh Lễ Vesak tại Chùa Pháp Nhãn lần thứ 2641, năm 2017. The Vesak Day photos at Phap Nhan Temple on May 28, 2017.
5/17/2017: "Hình ảnh Lễ Hằng Thuận at Pháp Mhãn Temple May-4-2017 Photos of Wedding at Pháp Mhãn Temple on Sunday May 4 /2017
javascript:void(0)
3/27/2017: "Hình ảnh Khóa Tu at Pháp Mhãn Temple 26-3-2017 Photos of Spring Retreat at Pháp Mhãn Temple on Sunday Mar. 26 /2017
2/28/2017:Video "Lễ Giao Thừa Xuân Đinh Dậu 01/27/2017 at Pháp Mhãn Temple Video of "New Lunar Year Eve 01/27/2017 at Pháp Mhãn Temple
2/21/2017: "Hình ảnh hành Hương at Pháp Mhãn Temple Photos of "New Year at Pháp Mhãn Temple on Sunday Feb. 12 /2017
12/12/2016:Video "Khóa Tu Tạ Ơn 27/11/2016 at Pháp Mhãn Temple Video of "Thanksgiving Retreat at Pháp Mhãn Temple on Sunday Nov. 27, 2016
11/14/2016:Lễ Hằng Thuận 12-11-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Photos of The Wedding Ceremony at Pháp Nhãn Temple on November 12, 2016
10/27/2016:Video "Tỳ-xá-khư, nữ thí chủ hộ Pháp đắc lực-Thầy Trừng Sỹ giảng tại chùa Hải Đức - Houston - TX. Video of "Visakha" by Ven. Thích Trừng Sỹ in October, 2016 at Hải Đức Temple - Houston - TX.
09/27/2016:Video "Buổi Sáng An Lành-Thích Trừng Sỹ tại Chùa Pháp Nhãn Video of "Peaceful Morning" by Ven. Thích Trừng Sỹ on Sept. 17, 2016 at Pháp Nhãn Temple.
09/10/2016:Video Lễ Quy Y 27-8-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Video of Ceremony of Taking Refuge in Three Jewels on August 27, 2016 at Pháp Nhãn Temple.
08/26/2016:Video Lễ Vu Lan 14-8-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Video of Vu Lan Ceremony August 14, 2016 at Pháp Nhãn Temple.
08/15/2016:Hình Ảnh Lễ Vu Lan 21-8-2016 tại Chùa Hội Phước - New Mexico Photos of Vu Lan Ceremony August 21, 2016 at Hoi Phuoc Temple - New Mexico
08/15/2016:Hình Ảnh Lễ Vu Lan 14-8-2016 tại Chùa Pháp Nhãn Photos of Vu Lan Ceremony August 14, 2016 at Pháp Nhãn Temple
07/3/2016:Thiền Tập tại Chùa Pháp Nhãn Meditation practice at Pháp Nhãn Temple
06/31/2016:Khóa Tu An Cư Kiết Hạ cho chư vị xuất Sĩ và cư Sĩ 10 ngày tại Niệm Phật Đường ở Fremont, CA 2016 thật là hùng tráng, hạnh phúc, an vui, ý nghĩa, và thú vị. A 10-Day- Vassa - Summer Retreat for the Sangha at Niem Phat Duong Dharma Center in Fremont, CA in the year 2016 is so strongly noble, joyful, happy, meaningful, and interesting.
06/30/2016:Chư vị xuất Sĩ có duyên lành thăm viếng tôn tượng Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và các tôn tượng khác ở Oakland, CA tháng 6 2016. The Sangha has a good opportunity to visit Zen Master Thích Nhất Hạnh's respectful statue and others' different statues in Oakland, CA in June, 2016.
06/28/2016:Rải Tâm Thương Yêu - Spreading compassion heart in June 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ Chư vị xuất Sĩ và cư Sĩ có duyên lành viếng thăm và rải tâm từ tới những người thân người thương tại Viện Dưỡng Lão ở San Jose, CA tháng 6 năm 2016.
06/11/2016: video Pha1p Thoa5i "Chân Hạnh Phúc" tại Chùa Pháp Nhãn-TX 6/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - Video of Dharma Talk "The Happiness" in June 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday June 11 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
06/02/2016: video Lễ Phật Đản 2016 tại Chùa Pháp Nhãn-TX 29/5/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - Video of The Vesak Day Ceremony 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday May. 29 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
05/30/2016: Lễ Quy Y 2016 tại Chùa Pháp Nhãn-TX 29/5/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - The Ceremony of Taking Refuge 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday May. 29 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
05/30/2016: Lễ Phật Đản 2016 tại Chùa Pháp Nhãn-TX 29/5/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ - The Vesak Day Ceremony 2016 at Pháp Nhãn Temple on Sunday May. 29 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
04/3/2016: Video Khóa Mùa Xuân (Lễ Vía Đức Mẹ HIền Quan Thế Âm) tại Chùa Pháp Nhãn-TX 27/3/2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of Spring Retreat (Compassion Mother Quan Thế Âm's Ceremorial Day) at Pháp Nhãn Temple on Sunday Mar. 27 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
03/4/2016: Video Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn-TX ngày 28 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of Lay Buddhists from Houston visiting at Pháp Nhãn Temple on Sunday Feb. 28, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
03/1/2016: Video Hành Hương tại các Chùa Austin-TX ngày 28 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of Lay Buddhists from Houston visiting at Temples in Austin on Sunday Feb. 28, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/29/2016: Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn ngày 28 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Lay Buddhists from Houston visiting at Phap Nhan Temple on Sunday Feb. 21, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/24/2016: Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn ngày 21 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Lay Buddhists from Houston visiting at Phap Nhan Temple on Sunday Feb. 21, 2016 by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/21/2016: Cầu An - Xuân tại Chùa Pháp Nhãn Hôm nay ngày Rằm tháng Giêng Âm Lịch năm Bính Thân 2016, quý Phật tử có đủ duyên lành về Chùa Pháp Nhãn và Chùa Thái để lạy Phật, Pháp, và Tăng. (Today, the Full Moon of Lunar January of the Monkey Year 2016, everyone has enough good opportunity to visit and come to Phap Nhan Temple and Thai Temple in order to pay homage to the Buddha, the Dharma, and the Sangha.)
02/17/2016: Thầy Trừng Sỹ giảng về Cầu An - Xuân tại Chùa Pháp Nhãn ngày 14 tháng 2 năm 2016 (Dharma Talk about Praying for Peacefulness - Spring 2016 at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/16/2016: Hành Hương tại Chùa Pháp Nhãn ngày 10 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Lay Buddhists from Houston visiting at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/12/2016: Hình Ảnh Tết – XUÂN DI LẶC – 2016 Tết tại Chùa Pháp Nhãn By Ven. Thích Trừng Sỹ (Photos of Maitreya Spring 2016 at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/10/2016: Lễ Quy Y và Giao Thừa đón năm Bính Thân tại Chùa Pháp Nhãn ngày 8 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Photos of New Year's Eve at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
02/09/2016: Lễ Quy Y và Giao Thừa đón năm Bính Thân tại Chùa Pháp Nhãn ngày 8 tháng 2 năm 2016 By Ven. Thích Trừng Sỹ (Video of New Year's Eve at Phap Nhan Temple by Ven. Thích Trừng Sỹ)
1/19/2016: Thầy Trừng Sỹ giảng Nương Tựa An Vui (Video preached by Ven. Thích Trừng Sỹ)
1/18/2016: Thầy Trừng Sỹ giảng Ý Nghĩa Niệm Phật (Video of Dharma talk "The Meanings of Reciting Buddha's Name" by Ven. Thích Trừng Sỹ)
1/17/2016: Khóa Tu Bồ Đề Diệp được tổ chức tại Ngôi Nhà Nguyện và Chùa Tây Tạng ở thành phố Seattle, tiểu bang Wanshington. Trong Khóa Tu này, chư vị xuất Sĩ và cư Sĩ cùng tham gia thiền tập, tụng Kinh, Pháp thoại, và pháp đàm rất là an lạc. (A Retreat of Bodhi Leaf was held at a Chapel House and at Tibetan Temple in Seattle, Washington State. In the Retreat, the Monastics and lay people attended meditation practice, Sutra chanting, dharma talk, and dharma discussion so peacefully.)

thiep Tet 2017

thiep Tet 2017

thiep Tet English 2017

thiep Tet English 2017

thumoiTet2017_VN

thumoiTet2017_VN

letter Tet 2017 _Eng

letter Tet 2017 _Eng

Tin ViênTịch

Tin ViênTịch

thotaon

thotaon

thotaon_Eng

thotaon_Eng

Brief history of Lord Sakyamuni Buddha by Ven. Thich Trung Sy

poster Phat Dan 2016

thong diep PD 2016

thong diep PD 2016

thong diep VN 2016

thong diep VN 2016

pdf thomoi Phat Dan 2016

Giaothua -ViaQA 2016


poster khoa mu xuan leQA 2016

poster khoa mu xuan leQA 2016

Thầy Trừng Sỹ Giảng videos

chuongtrinhthưVN

chuongtrinhthưVN

PosterTetVN

PosterTetVN

thiepchuongtrinhTet2016

thiepchuongtrinhTet2016

PosterTetEng

PosterTetEng

chuongtrinhSaturday

chuongtrinhSaturday

chuongtrinhhangtuanVN

chuongtrinhhangtuanVN

chuongtrinhhangtuan_ENG

chuongtrinhhangtuan_ENG

chuong trinh nam 2016 Phap Nhan Temple

Thầy Trừng Sỹ Giảng Chùa Bảo Quang

Donation Button

HINH AVARTA.PHOTO



New Year 2014

Lời Chúc ThanksGiving

New from Pháp Nhãn

Bấm vào xem thêm các bài viết(Please click thumnails to Read More Thich Trung Sy's Writings)

Videos





slideshow

Created with picasa slideshow.
Created with picasa slideshow.

Popular Posts

VIDEOS REVIEWS

RECENT WRITINGS

hoatraituhoc slideshow

Created with picasa slideshow.

My Blog List

Happy Vasak